Ngày 29/10, tại Hà Nội, Trường Đại học Luật Hà Nội phối hợp cùng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý và Trường Đại học Kinh tế - Luật (ĐHQG TP.HCM) tổ chức Hội thảo khoa học trọng điểm “Hệ thống pháp luật kinh tế Việt Nam 40 năm đổi mới (1986 - 2026)”.



Toàn cảnh Hội thảo khoa học trọng điểm “Hệ thống pháp luật kinh tế Việt Nam 40 năm đổi mới (1986 - 2026)”.
Sự kiện quy tụ đông đảo chuyên gia đầu ngành, nhà khoa học và đại diện các cơ quan quản lý nhằm tổng kết chặng đường 40 năm thể chế hóa đường lối đổi mới của Đảng, đồng thời đề ra định hướng hoàn thiện pháp luật trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước.
Từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung đến nền kinh tế thị trường
Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến, Trưởng khoa Pháp luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), Trưởng ban Pháp chế Hiệp hội Bất động sản Việt Nam (VNREA) đã phân tích toàn diện chặng đường 40 năm phát triển của hệ thống pháp luật kinh tế Việt Nam gắn liền với công cuộc đổi mới từ năm 1986.
Ông cho biết, điểm xuất phát của nền kinh tế nước ta lúc bấy giờ là một bối cảnh khủng hoảng trầm trọng, bao trùm bởi lạm phát phi mã từng đạt đỉnh tới 774%, trong khi hệ thống pháp luật chủ yếu chỉ bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật tản mác, rời rạc.
Về bản chất, các quy định thời kỳ đó phản ánh rõ nét tư duy quản lý mệnh lệnh hành chính theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, trong đó Nhà nước nắm giữ toàn bộ tư liệu sản xuất và phân phối trực tiếp mọi nguồn lực, triệt tiêu hoàn toàn động lực thị trường và sự chủ động của người dân, doanh nghiệp.

PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến, Trưởng khoa Pháp luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), Trưởng ban Pháp chế Hiệp hội Bất động sản Việt Nam (VNREA) phát biểu tại hội thảo.
Theo PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến, quá trình chuyển dịch thể chế mang tính bước ngoặt bắt đầu từ việc Đảng dũng cảm đổi mới tư duy kinh tế, thừa nhận sự tồn tại khách quan của nền kinh tế nhiều thành phần. Để hiện thực hóa chủ trương đó, hệ thống pháp luật kinh tế từng bước được xây dựng mới và hoàn thiện với nhiệm vụ trọng tâm là phá bỏ thế độc quyền nhà nước trong sản xuất, kinh doanh; thiết lập hành lang pháp lý bảo đảm quyền tự do kinh doanh; đồng thời ghi nhận và bảo hộ quyền sở hữu, quyền tài sản hợp pháp của các tổ chức, cá nhân. Những bước tiến lập pháp đột phá qua các thời kỳ đã tạo ra một môi trường pháp lý ngày càng thông thoáng, khơi thông các nguồn lực xã hội bị kìm nén lâu ngày.
Nhờ có sự đồng hành và kiến tạo của thể chế pháp luật, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn mang ý nghĩa lịch sử như: Vươn lên gia nhập nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao, quy mô GDP vượt mốc 500 tỷ USD; Hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu thông qua việc ký kết và thực thi 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới.
Tuy nhiên, tham luận cũng thẳng thắn chỉ ra những điểm nghẽn và thách thức lớn đặt ra trong giai đoạn hiện nay. Thực tiễn vận động nhanh chóng của nền kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và sự xuất hiện của các loại tài sản mã hóa, mô hình kinh doanh phi truyền thống đang tạo ra áp lực lớn khi hệ thống pháp luật đôi khi còn chậm trễ trong việc thích ứng. Bên cạnh đó, tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn hoặc chưa đồng bộ giữa các văn bản luật vẫn tồn tại, làm gia tăng đáng kể chi phí tuân thủ pháp luật cho cộng đồng doanh nghiệp.
"Bước sang kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu đặt ra không chỉ dừng lại ở việc sửa đổi các quy định cho trơn tru mà phải chiến lược hóa tư duy lập pháp, biến thể chế pháp luật thực sự trở thành một lợi thế cạnh tranh quốc gia để thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao và thúc đẩy tăng trưởng bền vững", PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến nói.
Quyền tự do kinh doanh - Sự chuyển dịch từ quản lý hành chính sang kiến tạo
Đi sâu vào lĩnh vực pháp luật doanh nghiệp, TS. Nguyễn Thị Dung, Phó Trưởng khoa Pháp luật Kinh tế, Đại học Luật Hà Nội đã chỉ ra những biến đổi mang tính bước ngoặt của pháp luật doanh nghiệp qua hành trình 40 năm đổi mới.
Theo TS. Nguyễn Thị Dung, giai đoạn trước năm 1986 và những năm đầu thập niên 80, không gian kinh tế bị thu hẹp trong mô hình quốc doanh và tập thể, khái niệm "tự do kinh doanh" đối với khu vực kinh tế tư nhân hoàn toàn vắng bóng. Mọi hoạt động sản xuất, trao đổi, mua bán hay lưu thông hàng hóa đều bị kìm kẹp bởi các chỉ tiêu pháp lệnh cứng nhắc, mệnh lệnh hành chính từ trên áp xuống và cơ chế "xin - cho" nặng nề, gây phiền hà và triệt tiêu mọi nguồn lực xã hội.

TS. Nguyễn Thị Dung, Phó Trưởng khoa Pháp luật Kinh tế, Đại học Luật Hà Nội.
Bước ngoặt lịch sử thay đổi hoàn toàn tư duy quản lý nhà nước chỉ bắt đầu từ sự ra đời của Hiến pháp 1992, tiếp nối qua Hiến pháp 2013 và hệ thống các đạo luật doanh nghiệp qua các thời kỳ.
"Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp kinh tế, nguyên tắc nền tảng "công dân được tự do kinh doanh những gì pháp luật không cấm" được hiến định và luật hóa rõ ràng", bà nhấn mạnh.
Từ chỗ khu vực kinh tế tư nhân bị xem nhẹ, chịu nhiều định kiến hoặc chỉ đứng bên lề sự phát triển, hệ thống pháp luật đã từng bước phá bỏ hàng loạt rào cản giấy phép con, thu hẹp phạm vi ngành nghề kinh doanh có điều kiện và chuyển dịch trọng tâm quản lý từ cơ chế "tiền kiểm" rườm rà sang "hậu kiểm" linh hoạt, minh bạch. Sự chuyển dịch này đã tạo lập một môi trường pháp lý bình đẳng, sòng phẳng, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp và giải phóng hàng loạt nguồn lực đầu tư trong nhân dân.
Tuy nhiên, bước vào bối cảnh bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với các mô hình kinh tế số, kinh tế chia sẻ và đổi mới sáng tạo diễn ra với tốc độ chóng mặt, TS Nguyễn Thị Dung nhấn mạnh rằng pháp luật doanh nghiệp không thể chỉ dừng lại ở vai trò điều chỉnh tĩnh hay đi sau quản lý. Yêu cầu cấp thiết đặt ra là pháp luật phải vươn lên đóng vai trò là động lực kiến tạo phát triển.
"Điều này đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện khung khổ thể chế, trong đó có việc thiết kế và luật hóa các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh tế công nghệ mới, nhằm bảo đảm sự linh hoạt cho thị trường, tiếp tục khơi thông nguồn lực và chắp cánh cho cộng đồng doanh nghiệp tư nhân vươn tầm khu vực và quốc tế", vị Phó Trưởng khoa kết luận.
Chế định trọng tài thương mại - Bước tiến trong giải quyết tranh chấp ngoài tòa án
Đóng góp tham luận từ góc độ giải quyết tranh chấp thương mại, TS. Vũ Kim Hạnh Dung, Trưởng bộ môn Luật Thương mại quốc tế, Trường Đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TP. HCM) đã phân tích vai trò tất yếu và bước phát triển vượt bậc của các thiết chế tài phán độc lập trong tiến trình hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới, khi các quan hệ kinh tế dân sự phát triển mạnh mẽ và số lượng tranh chấp hợp đồng gia tăng nhanh chóng, hệ thống tòa án nhà nước phải đối mặt với áp lực quá tải nghiêm trọng. Trong khi đó, các phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án (ADR) chưa nhận được sự quan tâm đúng mức, khiến việc giải quyết các xung đột thương mại đôi khi kéo dài và ảnh hưởng đến nhịp độ lưu thông của dòng vốn.

TS. Vũ Kim Hạnh Dung, Trưởng bộ môn Luật Thương mại quốc tế, Trường Đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TP. HCM).
Bước tiến cho sự phát triển của phương thức tài phán phi nhà nước này được đánh dấu bằng sự ra đời và hoàn thiện của Luật Trọng tài thương mại năm 2010. Đạo luật này đã tạo ra một khung khổ pháp lý vững chắc, đồng bộ và tiệm cận với các chuẩn mực pháp lý quốc tế, qua đó chính thức thừa nhận và tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho sự hoạt động của các trung tâm trọng tài thương mại phi nhà nước. Nhờ đó, cộng đồng doanh nghiệp có thêm một kênh giải quyết tranh chấp độc lập, chuyên nghiệp, trao quyền chủ động tuyệt đối cho các bên từ việc lựa chọn quy tắc tố tụng, địa điểm, ngôn ngữ cho đến việc chỉ định trọng tài viên phù hợp với bản chất vụ việc.
Thực tiễn 40 năm qua cho thấy, trọng tài thương mại đã chứng minh được nhiều ưu thế vượt trội so với phương thức tố tụng tư pháp truyền thống. Đó là tính bảo mật thông tin tuyệt đối — yếu tố cực kỳ quan trọng đối với uy tín và bí quyết kinh doanh của doanh nghiệp; tốc độ giải quyết nhanh chóng giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cơ hội; thủ tục linh hoạt; và đặc biệt là hàm lượng chuyên môn sâu của đội ngũ trọng tài viên là những chuyên gia đầu ngành về luật pháp, kinh tế, tài chính, am hiểu sâu sắc tập quán thương mại quốc gia và quốc tế.
Tuy nhiên, bước vào kỷ nguyên số hóa với làn sóng thương mại điện tử xuyên biên giới và các mô hình kinh doanh phi truyền thống phức tạp, TS Vũ Kim Hạnh Dung chỉ ra rằng chế định trọng tài thương mại đang đứng trước những yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục tự đổi mới. Điều này đòi hỏi các trung tâm trọng tài phải nhanh chóng ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quy trình tố tụng (như tổ chức phiên họp trực tuyến, số hóa hồ sơ chứng cứ), không ngừng nâng cao chuẩn mực minh bạch, tính chuyên nghiệp và chất lượng đội ngũ trọng tài viên. Qua đó, trọng tài thương mại sẽ tiếp tục củng cố vững chắc niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư quốc tế khi lựa chọn Việt Nam làm môi trường đầu tư, kinh doanh an toàn, minh bạch và tin cậy lâu dài.