Khởi công từ tháng 6/2023 với tổng mức đầu tư gần 22.000 tỷ đồng, cao tốc Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột được xác định là một trong những dự án hạ tầng giao thông trọng điểm nhằm kết nối khu vực Nam Trung Bộ với Tây Nguyên. Tuyến đường được kỳ vọng tạo cú hích cho liên kết vùng, mở rộng không gian phát triển kinh tế – xã hội giữa hai khu vực giàu tiềm năng này.
Dự án được chia thành ba dự án thành phần, trong đó Dự án thành phần 2 được xem là “nút thắt” quan trọng nhất của toàn tuyến khi vừa đóng vai trò kết nối hai đoạn còn lại, vừa phải đối mặt với nhiều thách thức trong thi công.

Dự án thành phần 2 được xem là “nút thắt” quan trọng nhất của Dự án cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột. Ảnh: Báo Đắk Lắk
Dự án thành phần 2 có chiều dài gần 37 km, bắt đầu tại Km32+00 (xã Tây Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa) và kết thúc tại Km68+854 (xã Ea Ô, tỉnh Đắk Lắk). Trên tuyến dự kiến xây dựng 4 hầm đường bộ, 1 nút giao và 38 cây cầu. Dự án do Ban Quản lý dự án đường sắt (Bộ Xây dựng) làm chủ đầu tư với tổng mức đầu tư hơn 10.436 tỷ đồng.
Trong tổng thể ba dự án thành phần, đoạn tuyến này được đánh giá là khó thi công nhất do đi qua khu vực rừng núi hiểm trở, nền địa chất phức tạp và nằm tại vùng giao thoa khí hậu giữa Tây Nguyên và Nam Trung Bộ. Những yếu tố này khiến công tác tổ chức thi công, đặc biệt là xây dựng hầm và cầu, đối mặt với nhiều rủi ro kỹ thuật.
Điển hình là gói thầu XL01 do liên danh Tập đoàn Đèo Cả – Công ty Cổ phần Xây dựng Đèo Cả đảm nhiệm. Gói thầu này bao gồm hạng mục hầm Phượng Hoàng dài khoảng 1,7 km, cùng 10 cây cầu và 5,6 km tuyến đường. Đây được xem là một trong những hạng mục phức tạp nhất trên toàn tuyến.

Hầm Phượng Hoàng. Ảnh: Báo Đắk Lắk
Theo ông Ngô Hữu Khoa, Giám đốc Ban Điều hành gói thầu XL01 (Tập đoàn Đèo Cả), khó khăn của dự án không chỉ đến từ địa hình mà còn xuất phát từ các vướng mắc thủ tục. Hiện công tác giải phóng mặt bằng đoạn qua địa phận tỉnh Đắk Lắk vẫn chưa hoàn tất, ảnh hưởng đến tiến độ thi công.
Bên cạnh đó, tình trạng khan hiếm vật liệu xây dựng, đặc biệt là cát, đang trở thành trở ngại lớn. Các mỏ cát được cấp phép theo cơ chế đặc thù đều nằm ở khu vực có dòng chảy nhỏ, trữ lượng hạn chế. Tổng trữ lượng của hai mỏ hiện chỉ khoảng 280.000m3, trong khi nhu cầu của toàn dự án lên tới khoảng 500.000m3. Các mỏ thương mại tại địa phương cũng khó đáp ứng cùng lúc nhu cầu của nhiều dự án trọng điểm đang triển khai.
Trước thực tế này, các nhà thầu buộc phải tìm nguồn vật liệu từ các địa phương lân cận hoặc khu vực phía Đông tỉnh. Tuy nhiên, việc vận chuyển từ khoảng cách xa khiến chi phí tăng cao và gây khó khăn cho việc tổ chức thi công đồng loạt. Ngoài ra, nguồn điện phục vụ cho các trạm nghiền, trạm trộn và khu sản xuất vật liệu cũng chưa ổn định vào giờ cao điểm, làm hạn chế công suất hoạt động của thiết bị.
Theo ông Phạm Văn Trình, Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án đường sắt, chủ đầu tư đang phối hợp chặt chẽ với các địa phương để xử lý dứt điểm những vướng mắc còn tồn tại. Đến nay, các gói thầu xây lắp thuộc Dự án thành phần 2 đã hoàn thành khoảng 62% khối lượng công việc.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Xây dựng, chủ đầu tư đã yêu cầu các nhà thầu rà soát lại toàn bộ tiến độ, siết chặt các hạng mục trên đường găng, đồng thời tăng tốc thi công. Với tinh thần “vượt nắng, thắng mưa”, các đơn vị đang huy động thêm nhân lực, thiết bị, tổ chức thi công “3 ca, 4 kíp” tại những vị trí thuận lợi, phấn đấu thông xe kỹ thuật Dự án thành phần 2 trước ngày 19/5/2026.
Khi ba dự án thành phần hoàn thành và được kết nối đồng bộ, cao tốc Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột sẽ rút ngắn quãng đường giữa hai địa phương từ gần 200 km xuống còn khoảng 117 km. Tuyến đường không chỉ tăng cường liên kết vùng mà còn mở ra động lực mới cho phát triển kinh tế – xã hội khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
Khi hoàn thành toàn tuyến, công trình được kỳ vọng trở thành tuyến cao tốc “rừng – biển” đầu tiên của Việt Nam, góp phần hoàn thiện mạng lưới giao thông đường bộ quốc gia và mở ra không gian phát triển mới cho hai vùng động lực trong giai đoạn tới.