Chuyện của Hùng Tây Nguyên
Văn Công Hùng
Nhà văn
Cú chiêng đầu đời

Cú chiêng đầu đời

Người Tây Nguyên “vô tình” hóa thành nghệ sĩ, những nghệ sĩ từ trong máu, từ trong chính những cuộc đời thầm lặng có phần bí ẩn của mình.

07:00, 25/05/2020

Cú thưởng thức chiêng đầu tiên của tôi là vào khoảng cuối tháng 11 năm 1981, tại cái sân sau của Ty Văn hóa Thông tin Gia Lai Kon Tum, ở đường Trần Hưng Đạo, Pleiku.

Hôm ấy, đội chiêng của một làng nào đấy được phòng Văn hóa quần chúng của Ty rước lên để trình diễn đón khách, một bác lãnh đạo rất to từ Hà Nội vào.

Tôi là lính mới toe từ Huế lên, hồi sinh viên học phần văn học dân gian dân tộc miền núi rất chán, thấy chả liên can gì đến mình, dù cũng vẫn là Sóng Chụ Son Sao, Đăm San, Xing Nhã, v.v... nhưng cứ thấy nhàn nhạt, thấy nó xa lắc xa lơ, giờ thấy chiêng Tây Nguyên hiện hữu ngay trước cửa phòng làm việc kiêm phòng ngủ của mình thì cũng... bắc ghế ngồi xem.

Và nói thật, tôi thất vọng. Dù tôi nhớ, hôm ấy có bác Trần Độ, có họa sĩ Đặng Thị Khuê và một số người mà tôi kính nhi viễn chi.

Dẫu chưa phải nhà tầng kính nhôm sáng choang như bây giờ, chưa xanh đỏ tím vàng như bây giờ, nhưng tôi thấy đội chiêng và xoang giữa cái sân của Ty Văn hóa Thông tin cứ lạc lõng thế nào ấy, không có sinh khí, không có hồn. Tiếng chiêng rời rạc bay vút lên trời chứ không la đà quyến luyến, những cặp chân ngập ngừng, những khuôn mặt ngơ ngác... Chưa kể, có lẽ hồi đầu ấy ít những cú xuất hiện nghệ nhân giữa phố thế này nên khá đông người tò mò rồi bình phẩm về trang phục của các nghệ nhân, khi ấy nam là khố và chân trần, không có áo, nữ là váy và áo ló. Họ là những thiên thần thật...

Sau đấy mươi hôm thì tôi được xuống làng Stơr, xã Nam và được chứng kiến một cuộc chiêng thực sự. Đây là làng của ông Núp, nhân vật chính trong tiểu thuyết Đất nước đứng lên, trong sách được mang tên là làng Kông Hoa. Khỏi phải nói, tôi đã háo hức đến như thế nào! Hình như ở đây chiêng mới thực sự là chiêng. Hôm ấy là một cuộc cơm mới (samok) của người Bahnar ở đây.

Hình như chiêng chỉ là một phần của cái lễ này, người ta có rất nhiều việc để làm, để chuẩn bị cho lễ, từ chuẩn bị rượu, nước để đổ rượu, cọc để cột rượu, đến làm cốm, nấu cơm, đốt gà, đập heo, v.v... Nhưng khi chiêng ra thì hình như lễ hội mới bắt đầu.

Tôi không đủ khả năng để phân biệt chiêng nào với chiêng nào, nhưng biết đây là một cuộc vui, tất cả mọi người, không trừ ai, kể cả mấy kẻ lạ hoắc chúng tôi, đều trở thành chủ thể của lễ hội, mọi người đều hòa vào nhau, hòa vào không khí ấy, không ai là khách không ai là chủ, không ai là diễn viên không ai là khán giả.

Tôi đã say đắm một ngày một đêm ở đấy, say thì lăn ra ngủ, tỉnh thì thấy mình như một thành viên của làng, cũng bốc cơm ăn, cũng ôm ghè uống, và cũng nâng bầu tu nước suối, cũng nhún nhẩy theo đoàn chiêng đi từ nhà này sang nhà khác, nhận những bốc cơm nhét vào miệng, những ống le hút đầy rượu được chủ nhà trao và cố uống hết.

Tôi lờ mờ hiểu ra không gian chiêng là thế nào...

Làng Xop Nghet (Xô Man) Tây Nguyên hôm nay
Nhà sàn Jrai...
...Và cồng chiêng thời hiện tại...

Đến tận bây giờ, cũng vẫn có không nhiều người Tây Nguyên bản địa nói được đúng cái danh hiệu mà UNESCO phong cho không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên. Phần lớn người ta cứ cho rằng cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. 

Đấy là cái nhầm rất to, bởi cái mà UNESCO phong cho ấy, nó là của không gian văn hóa kia, cồng chiêng chỉ là một thành tố trong ấy. Trong không gian ấy có con người, môi trường, có quá khứ, hiện tại và cả tương lai, có lịch sử, có văn hóa... làm thành một không gian cho cồng chiêng tồn tại và phát triển. Chiêng là một phần của không gian ấy, tương hỗ nhau, vì nhau mà tồn tại.

Không gian văn hóa ấy, chính là không gian làng, cụ thể ở đây là làng Tây Nguyên.

Tây Nguyên có nhiều dân tộc, từng dân tộc có không gian làng khác nhau. Ví dụ người Sê Đăng thường chọn vùng núi cao, độc đạo để ở. Những con đường lên làng vô cùng hiểm trở, nhất là mùa mưa. 

Có người bảo do người Sê Đăng thiện chiến, bao giờ họ cũng biến làng của họ thành những pháo đài, đối phương muốn tấn công lên rất khó. Người Bahnar thì ngược lại, hiền hòa, chọn những khu đất thoải và bằng lập làng, luôn kề suối hoặc những nơi có nước để làm giọt nước cho làng. 

"Người Tây Nguyên “vô tình” hóa thành nghệ sĩ, những nghệ sĩ từ trong máu, từ trong chính những cuộc đời thầm lặng có phần bí ẩn của mình.... (Ảnh: Sưu tầm)

Nhà rông của hai tộc người này cũng rất khác nhau, nhà rông Sê Đăng thì cao vút, uy dũng tạc vào trời xanh, nhà rông Bahnar thì thấp hơn, hài hòa hơn, nhiều đường cong hơn, gần gũi con người hơn, như con gà mẹ ấp iu bên lũ gà con là những ngôi nhà sàn lúp xúp xung quanh. Và trong không gian ấy, chiêng của từng dân tộc cũng khác nhau.

Không gian sống, tính cách sống, hoàn cảnh sống, vân vân, quy định luôn tính chất của chiêng dân tộc ấy. Bật khỏi không gian ấy, chiêng thành một thứ nhạc cụ trình diễn. Mà trình diễn thì các nghệ sĩ chuyên nghiệp có khả năng hơn rất nhiều.

Mà thủy tổ của chiêng, hình như không phải là nhạc cụ.

Ban đầu có lẽ nó mang chức năng thông tin, như tiếng tù và, tiếng mõ ngày xưa. Tiến lên bước nữa, nó là của cải. Chúng ta vẫn thường nghe chiêng năm trâu, bảy trâu, thậm chí đổi bằng voi. Mãi gần đây thì phải, nó mới là... nhạc cụ. Nên có những thanh niên cải tiến cả dàn chiêng thành chỉ một người chơi và đánh những bài hát hiện đại, như Ca ngợi anh hùng Núp, Như có Bác trong ngày vui đại thắng...

Một điều lý thú và đáng... ngạc nhiên nữa, là người Tây Nguyên không làm ra chiêng, nhưng họ đã biến chiêng của người Kinh, người Lào, người Mã Lai... thành của mình, thành thử nếu rời Tây Nguyên ra thì chiêng không còn là... chiêng.

Là bởi người Tây Nguyên có những thợ chỉnh chiêng tuyệt vời. Chiêng mua về, qua tay những con người tuyệt vời này, mới mang máu huyết Tây Nguyên, tâm hồn Tây Nguyên.

Rồi người Tây Nguyên biến không gian sống của mình thành không gian chiêng. Trong không gian ấy, người Tây Nguyên “vô tình” hóa thành nghệ sĩ, những nghệ sĩ từ trong máu, từ trong chính những cuộc đời thầm lặng có phần bí ẩn của mình. Về làng, ta thường gặp những người Tây Nguyên bản địa ít nói, ngậm tẩu, ôm ghè rượu, lặng lẽ suốt ngày. Nhưng khi tiếng chiêng cất lên, họ là những con người khác, những con người nghệ sĩ hơn tất cả những nghệ sĩ, tất nhiên trong không gian làng của họ...

Bứng ra khỏi đấy, chiêng mang một tính chất khác.

Nên tôi nghi ngờ những Festival chiêng mang lên phố biểu diễn. Nghi ngờ những cuộc chiêng tưng bừng trên sân khấu xanh đỏ tím vàng kim tuyến, đèn màu và son phấn. Dù nhờ son phấn, con người đẹp và thơm lên biết bao nhiêu?

Muốn bảo tồn chiêng, lại phải bắt đầu từ làng.

Ý kiến của bạn

Bạn còn 500/500 ký tự


TOP