PGS.TS.KTS. Hoàng Mạnh Nguyên: Giá trị và lợi ích của dự án xanh cần được đo lường và nhận diện

PGS.TS.KTS. Hoàng Mạnh Nguyên: Giá trị và lợi ích của dự án xanh cần được đo lường và nhận diện

Thứ Tư, 21/10/2026 - 06:16

Quyết định 46 tạo thêm cơ sở để nhận diện giá trị xanh, thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao chất lượng công trình và phát triển các mô hình đô thị bền vững. Theo PGS.TS.KTS. Hoàng Mạnh Nguyên, điều quan trọng là các tiêu chí xanh phải được hiện thực hóa bằng giải pháp kiến trúc phù hợp, hiệu quả sử dụng tài nguyên và chất lượng không gian sống, qua đó từng bước trở thành chuẩn phát triển phổ biến của thị trường bất động sản.

Cùng với xu hướng phát triển bền vững, ngày càng nhiều doanh nghiệp bất động sản đưa các yếu tố xanh vào phát triển nhà ở, văn phòng, khu công nghiệp và các khu đô thị quy mô lớn. Tuy nhiên, khi yếu tố xanh trở thành lợi thế cạnh tranh, việc xây dựng các tiêu chí đánh giá rõ ràng, minh bạch là yêu cầu cần thiết để xác định giá trị thực chất của dự án. 

Trong bối cảnh đó, Quyết định 46/ 2026/QĐ-TTg về “Hướng dẫn xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị” đã tạo thêm nền tảng chính sách để chuẩn hóa việc nhận diện và thúc đẩy đầu tư xanh. Song, từ tiêu chí xác định dự án đến chất lượng công trình và không gian đô thị vẫn đòi hỏi sự đồng bộ trong quy hoạch, thiết kế, xây dựng và vận hành.

Trao đổi với Reatimes, PGS.TS.KTS. Hoàng Mạnh Nguyên, Chủ tịch Viện Khoa học Công nghệ Đô thị xanh cho rằng, Quyết định 46 tạo thêm cơ sở thúc đẩy phát triển công trình xanh, góp phần nâng cao chất lượng bất động sản và đô thị. Để công trình xanh từng bước trở thành chuẩn phát triển mới của thị trường, cần có tiêu chí đánh giá rõ ràng, giải pháp kiến trúc phù hợp với điều kiện Việt Nam và cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, nhân rộng các mô hình xanh, mang lại lợi ích thực chất cho người sử dụng; đồng thời hạn chế tình trạng gắn nhãn xanh mang tính hình thức.

- Thưa PGS.TS.KTS. Hoàng Mạnh Nguyên, ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa thể chế của Quyết định 46/2026/QĐ-TTg đối với việc thúc đẩy đầu tư xanh, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng và bất động sản?

PGS.TS.KTS. Hoàng Mạnh Nguyên: Quyết định 46 có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển các định hướng tăng trưởng xanh và phát triển bền vững thành cơ chế xác định, đánh giá và khuyến khích đầu tư xanh cụ thể.

Trước đây, Việt Nam đã có nhiều chủ trương thúc đẩy sử dụng hiệu quả tài nguyên, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải. Tuy nhiên, trong thực tế, việc xác định dự án nào đáp ứng yêu cầu xanh, dựa trên tiêu chí nào vẫn chưa có cơ sở thống nhất.

Quyết định 46 góp phần giải quyết vấn đề này khi quy định tiêu chí xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và việc áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG). Qua đó, cơ quan quản lý, doanh nghiệp và tổ chức tài chính có thêm căn cứ để đánh giá dự án, nâng cao tính minh bạch và hạn chế tình trạng gắn nhãn xanh mang tính hình thức.

Việc xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và yêu cầu báo cáo áp dụng khung ESG còn tạo cơ sở để xem xét hỗ trợ lãi suất theo quy định.

Đối với lĩnh vực xây dựng và bất động sản, chủ đầu tư có thêm cơ sở để đưa các yêu cầu tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải, sử dụng vật liệu bền vững vào quá trình phát triển dự án, từ quy hoạch, thiết kế đến lựa chọn công nghệ và tổ chức vận hành. Đồng thời, cần phân biệt rõ tiêu chí xác định dự án xanh với hệ thống tiêu chí đánh giá công trình xanh chuyên ngành.

Vì vậy, để chính sách phát huy hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn công trình xanh phù hợp với điều kiện Việt Nam, bảo đảm sự đồng bộ giữa yêu cầu kỹ thuật, chính sách tài chính xanh và hoạt động đầu tư xây dựng. Đặc biệt, cần từng bước thúc đẩy việc áp dụng các yêu cầu xanh đối với công trình sử dụng vốn nhà nước. 

- Khi tiêu chí xác định dự án xanh ngày càng rõ và được chuẩn hóa, theo ông, điều này có thể tác động như thế nào đến chất lượng công trình xanh, cũng như cách các doanh nghiệp bất động sản thiết kế, đầu tư và phát triển dự án tại Việt Nam?

PGS.TS.KTS. Hoàng Mạnh Nguyên: Tôi cho là thị trường công trình xanh sẽ có cơ sở phát triển minh bạch và thực chất hơn. Trước hết, các tiêu chí rõ ràng giúp chủ đầu tư định hướng hoạt động đầu tư, đồng thời tạo điều kiện để các đơn vị tư vấn nâng cao chất lượng thiết kế. Việc đặt ra ngay từ đầu các yêu cầu về tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải, sử dụng vật liệu bền vững và chất lượng môi trường sẽ giúp doanh nghiệp lựa chọn giải pháp phù hợp với từng dự án.

Điều này cũng khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và tạo thêm điều kiện tiếp cận các nguồn vốn xanh.

Đối với thị trường bất động sản, việc chuẩn hóa tiêu chí xanh giúp đánh giá rõ hơn chất lượng dự án, nhất là hiệu quả sử dụng năng lượng, tài nguyên và môi trường sống. Đây cũng là cơ sở để người mua, nhà đầu tư lựa chọn sản phẩm và doanh nghiệp nâng cao uy tín, năng lực cạnh tranh bằng chất lượng thực tế.

Ở góc độ kiến trúc, tôi cho rằng chất lượng công trình xanh phải được đánh giá xuyên suốt từ thiết kế, xây dựng đến vận hành. Vì vậy, cần đồng bộ tiêu chí xác định dự án xanh với hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn và công cụ đánh giá, chứng nhận công trình xanh; đồng thời kiểm soát chất lượng thi công, vận hành và đánh giá hiệu quả sau đầu tư để bảo đảm những lợi ích này được duy trì lâu dài.

- Trên thực tế, ngày càng nhiều dự án bất động sản được giới thiệu với những yếu tố xanh như cây xanh, mặt nước, vật liệu thân thiện môi trường hay công nghệ tiết kiệm năng lượng. Theo ông, đâu là những tiêu chí quan trọng để đánh giá một dự án thực sự xanh, tránh tình trạng xanh chỉ dừng ở hình thức hoặc thông điệp quảng bá?

PGS.TS.KTS. Hoàng Mạnh Nguyên: Để đánh giá một dự án bất động sản có thực sự xanh hay không, cần xem xét tổng thể về quy hoạch, thiết kế, xây dựng và vận hành.

Trước hết, cần có những chỉ tiêu cụ thể về hiệu quả sử dụng năng lượng, nước, vật liệu và giảm phát thải.

Thứ hai, phải đánh giá sự phù hợp của các giải pháp kiến trúc với điều kiện khí hậu và nhu cầu sử dụng. 

Thứ ba, đối với các khu đô thị, cần đánh giá chất lượng quy hoạch và sự đồng bộ của hạ tầng. Một dự án có nhiều cây xanh, hồ nước nhưng giao thông thiếu kết nối, thoát nước không đáp ứng yêu cầu hoặc không gian công cộng khó tiếp cận thì hiệu quả xanh tổng thể vẫn bị hạn chế. Vì vậy, cần xem xét khả năng thích ứng khí hậu, tổ chức không gian và chất lượng sống trên phạm vi toàn khu đô thị.

Đặc biệt, các cam kết xanh phải có cơ sở kiểm chứng. Thước đo quan trọng của một dự án xanh là sự thống nhất giữa mục tiêu, giải pháp thực hiện và hiệu quả đạt được. Đối với doanh nghiệp, đó là chất lượng sản phẩm, hiệu quả đầu tư và chi phí vận hành. Đối với người dân, đó là môi trường sống tiện nghi, an toàn, tiết kiệm chi phí sử dụng.

Khi những giá trị này được minh chứng bằng kết quả cụ thể, thị trường sẽ có cơ sở nhận diện rõ hơn đâu là giá trị xanh thực chất, đồng thời tạo động lực để các doanh nghiệp đầu tư nghiêm túc vào phát triển bền vững.

- Khi ngày càng nhiều dự án đáp ứng các tiêu chí xanh, điều này có thể tạo ra sự lan tỏa như thế nào đến chất lượng phát triển đô thị tại Việt Nam? Đặc biệt, ông nhìn nhận ra sao về vai trò của các doanh nghiệp bất động sản trong việc thúc đẩy những mô hình đô thị xanh?

PGS.TS.KTS. Hoàng Mạnh Nguyên: Khi có nhiều dự án đáp ứng các tiêu chí xanh, những tác động tích cực sẽ không dừng lại ở từng công trình mà còn góp phần cải thiện chất lượng phát triển đô thị.

Vì vậy, tôi cho là cần chuyển từ tư duy phát triển từng công trình xanh sang xây dựng hệ sinh thái đô thị xanh, trong đó quy hoạch, kiến trúc, hạ tầng và giao thông được tích hợp theo mục tiêu phát triển bền vững.

Ở góc độ này, các doanh nghiệp bất động sản, đặc biệt là chủ đầu tư những khu đô thị quy mô lớn, có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các mô hình phát triển xanh. Ngay từ khâu quy hoạch, doanh nghiệp cần tổ chức hợp lý mật độ xây dựng, cây xanh, mặt nước, không gian công cộng và hệ thống giao thông, đồng thời bảo đảm sự đồng bộ của hạ tầng kỹ thuật.

Một khu đô thị được quy hoạch tốt có thể cải thiện vi khí hậu, hạn chế hiệu ứng đảo nhiệt, tăng khả năng thoát nước, giảm ngập úng và tạo thuận lợi cho sinh hoạt, đi lại của cư dân. Vì vậy, yếu tố xanh cần được tích hợp vào tổng thể quy hoạch, kiến trúc và hạ tầng, trở thành một phần của chất lượng và giá trị sử dụng lâu dài của dự án.

Từ thực tiễn đó, tôi cho rằng doanh nghiệp cần nhìn nhận yếu tố xanh như một phần của chất lượng quy hoạch và giá trị sử dụng lâu dài của dự án. Các giải pháp kiến trúc, cảnh quan và hạ tầng phải được tổ chức thành một hệ thống, có khả năng vận hành hiệu quả và phù hợp với điều kiện của từng địa phương.

Trong những năm gần đây, yêu cầu phát triển bền vững đang ngày càng mở rộng từ phạm vi công trình sang toàn bộ không gian đô thị. Thị trường bất động sản đã bắt đầu quan tâm đến các mô hình phát triển đô thị sinh thái, đô thị thông minh và đô thị tái sinh.

Khi các doanh nghiệp chủ động nghiên cứu và phát triển những mô hình đô thị phù hợp với điều kiện tự nhiên, hạ tầng và nhu cầu của cộng đồng, thị trường sẽ có thêm cơ hội hình thành những sản phẩm bất động sản có chất lượng tốt hơn. Đây cũng là hướng để từng bước nâng cao chất lượng đô thị Việt Nam, từ các công trình riêng lẻ đến những không gian sống được quy hoạch và vận hành đồng bộ.

PGS.TS.KTS. Hoàng Mạnh Nguyên: Giá trị và lợi ích của dự án xanh cần được đo lường và nhận diện - Ảnh 1.
PGS.TS.KTS. Hoàng Mạnh Nguyên: Giá trị và lợi ích của dự án xanh cần được đo lường và nhận diện - Ảnh 2.

Vinhomes Green Paradise Cần Giờ được đánh giá là đô thị mới, hiện đại, mang kiến trúc xanh và phát triển bền vững theo tiêu chuẩn ESG. (Ảnh minh họa: Chủ đầu tư)

- Từ góc độ kiến trúc và đô thị, khi phát triển các dự án xanh và công trình xanh tại Việt Nam, doanh nghiệp cần chú ý những yếu tố đặc thù nào về khí hậu, điều kiện đô thị, nhu cầu sử dụng và văn hóa bản địa để các tiêu chí xanh được áp dụng hiệu quả trong thực tiễn, thưa ông?

PGS.TS.KTS. Hoàng Mạnh Nguyên: Để áp dụng hiệu quả các tiêu chí xanh, trước hết phải xuất phát từ điều kiện thực tiễn của Việt Nam, tránh sao chép máy móc các mô hình quốc tế.

Trước hết, cần coi khí hậu nhiệt đới gió mùa là cơ sở quan trọng của thiết kế xanh, chú trọng giải pháp thông gió tự nhiên, che nắng, chống nóng, tận dụng ánh sáng tự nhiên và tiết kiệm năng lượng, đồng thời thích ứng với mưa lớn, ngập lụt và nắng nóng cực đoan.

Yếu tố thứ hai là điều kiện đô thị. Mỗi dự án cần được xem xét trong mối quan hệ với mật độ xây dựng, cây xanh, mặt nước, giao thông và hệ thống hạ tầng xung quanh. Đặc biệt, tại những đô thị có mật độ dân cư cao, yêu cầu về thông gió, chiếu sáng tự nhiên, không gian sinh hoạt cộng đồng và giảm hiệu ứng đảo nhiệt càng cần được chú trọng.

Thứ ba, các giải pháp phải phù hợp với nhu cầu sử dụng, điều kiện kinh tế và khả năng vận hành, bảo trì của từng loại công trình, tránh đầu tư công nghệ xanh nhưng không phát huy hiệu quả thực tế.

Đặc biệt, cần phát huy vật liệu địa phương, tri thức kiến trúc truyền thống và văn hóa bản địa trong tổ chức không gian, thông gió, che nắng và thích ứng khí hậu. Đây là những giá trị có thể kết hợp với công nghệ hiện đại để tạo nên bản sắc riêng cho kiến trúc xanh Việt Nam.

Vì vậy, các tiêu chí xanh cần được xây dựng theo hướng có nguyên tắc thống nhất nhưng linh hoạt theo vùng khí hậu, loại hình công trình và điều kiện phát triển. Công trình xanh không chỉ cần giảm tiêu thụ năng lượng hay phát thải, mà còn phải phù hợp với con người, văn hóa và điều kiện sống tại địa phương, qua đó bảo đảm hiệu quả bền vững trong suốt vòng đời công trình.

- Theo ông, dư địa phát triển công trình xanh tại Việt Nam hiện nằm ở những loại hình nào? Quyết định 46 có thể mở thêm cơ hội gì cho các doanh nghiệp bất động sản trong việc khai thác những dư địa này?

PGS.TS.KTS. Hoàng Mạnh Nguyên: Dư địa phát triển công trình xanh tại Việt Nam còn rất lớn, không chỉ ở các dự án đô thị mới, khu đô thị sinh thái hay công trình thương mại, văn phòng, mà còn ở nhà ở, công trình công cộng, công trình công nghiệp và đặc biệt là cải tạo các công trình hiện hữu. Đây là những lĩnh vực có tiềm năng tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải, sử dụng vật liệu bền vững và nâng cao chất lượng môi trường sống.

Đối với thị trường bất động sản, nhà ở là lĩnh vực có dư địa lớn, nhất là chung cư và nhà ở xã hội. Việc tích hợp các giải pháp tiết kiệm năng lượng, sử dụng nước hiệu quả và vật liệu phù hợp ngay từ khâu thiết kế có thể góp phần giảm chi phí sinh hoạt, nâng cao chất lượng sống của người dân. Công trình xanh cũng không nhất thiết phải có mức đầu tư lớn hay sử dụng công nghệ phức tạp, mà cần lựa chọn giải pháp phù hợp với điều kiện kinh tế và nhu cầu sử dụng.

Thực tế thị trường đã ghi nhận những công trình xanh ở phân khúc nhà ở dành cho người thu nhập trung bình và thấp. Điển hình là các dự án EcoHome 3 và EcoHome Phúc Lợi (Tập đoàn Capital House) được cấp chứng nhận công trình xanh EDGE (do Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) - thành viên Ngân hàng Thế giới phát triển)

Có thể nói, Quyết định 46 tạo thêm cơ hội khi đưa ra cơ sở xác định dự án xanh, góp phần tăng khả năng tiếp cận các cơ chế hỗ trợ tài chính và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các giải pháp thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả dư địa này, cần hoàn thiện tiêu chí phù hợp với từng loại hình công trình, đồng thời thúc đẩy công trình xanh trong các dự án sử dụng vốn nhà nước và phát triển nhà ở xã hội.

Đồng thời, công trình xanh cần được nhìn nhận không chỉ là một phân khúc đầu tư mới, mà còn là động lực nâng cấp toàn bộ thị trường xây dựng theo hướng tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và phát triển bền vững.

PGS.TS.KTS. Hoàng Mạnh Nguyên: Giá trị và lợi ích của dự án xanh cần được đo lường và nhận diện - Ảnh 3.
PGS.TS.KTS. Hoàng Mạnh Nguyên: Giá trị và lợi ích của dự án xanh cần được đo lường và nhận diện - Ảnh 4.

Thị trường đã ghi nhận những công trình xanh ở phân khúc nhà ở dành cho người thu nhập trung bình và thấp. (Ảnh minh hoạ: dự án EcoHome 3)

- Theo ông, cần những điều kiện gì để công trình xanh vượt khỏi phạm vi các dự án tiên phong, từng bước trở thành chuẩn phát triển mới của thị trường bất động sản và đô thị Việt Nam? Trong đó, đâu là những giải pháp quan trọng để doanh nghiệp có thêm động lực đầu tư và nhân rộng các mô hình xanh?

PGS.TS.KTS. Hoàng Mạnh Nguyên: Để công trình xanh phát triển ở quy mô lớn hơn, cần chuyển từ các cơ chế khuyến khích riêng lẻ sang một hệ thống chính sách đồng bộ, kết hợp giữa tiêu chuẩn kỹ thuật, công cụ tài chính và yêu cầu thực tiễn của thị trường.

Thứ nhất, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn và quy chuẩn công trình xanh phù hợp với điều kiện Việt Nam. Các yêu cầu phải gắn với đặc điểm khí hậu, loại hình công trình và hiệu quả môi trường trong suốt vòng đời sử dụng.

Điều quan trọng là hệ thống tiêu chí phải có tính khả thi, giúp doanh nghiệp xác định rõ yêu cầu cần đáp ứng và lựa chọn giải pháp phù hợp. Nếu tiêu chí quá phức tạp, chi phí đánh giá lớn hoặc thiếu sự thống nhất giữa các quy định, việc triển khai sẽ gặp khó khăn, đặc biệt đối với doanh nghiệp có nguồn lực hạn chế.

Thứ hai, cần có cơ chế khuyến khích về tín dụng, thuế và đầu tư, nhất là đối với các dự án tiết kiệm năng lượng, cải tạo công trình hiện hữu và phát triển nhà ở xã hội.

Thực tế, một trong những vấn đề doanh nghiệp phải cân nhắc là chi phí đầu tư ban đầu và khả năng thu hồi vốn. Vì vậy, bên cạnh việc hoàn thiện tiêu chí xanh, cần nghiên cứu các công cụ hỗ trợ phù hợp để những dự án đáp ứng yêu cầu có thêm điều kiện triển khai.

Đồng thời, doanh nghiệp cũng cần thay đổi cách đánh giá hiệu quả đầu tư. Chi phí xây dựng ban đầu chỉ là một phần trong tổng chi phí của công trình. Nếu giải pháp xanh giúp tiết kiệm năng lượng, nước, giảm chi phí bảo trì và kéo dài thời gian khai thác hiệu quả thì những lợi ích đó cần được tính toán trong cả vòng đời dự án.

Thứ ba, cần từng bước tích hợp tiêu chí xanh vào quy hoạch đô thị, thiết kế, thẩm định và quản lý đầu tư xây dựng, chứ không chỉ xem đây là những yêu cầu bổ sung đối với một số dự án. Trong đó, ưu tiên nghiên cứu áp dụng đối với các công trình sử dụng vốn nhà nước.

Khi nhu cầu được mở rộng, các doanh nghiệp xây dựng, sản xuất vật liệu, cung cấp thiết bị và tư vấn thiết kế cũng có thêm động lực đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực chuyên môn. Đây là một điều kiện quan trọng để công trình xanh có thể phát triển trên quy mô lớn hơn.

Bên cạnh đó, cần chú trọng công tác đánh giá, chứng nhận và giám sát sau đầu tư, bảo đảm những yêu cầu xanh được thực hiện đúng trong quá trình xây dựng và tiếp tục phát huy hiệu quả khi công trình đi vào sử dụng.

Một yêu cầu nữa là nâng cao năng lực của đội ngũ tư vấn, thiết kế, nhà thầu và đơn vị quản lý vận hành. Đồng thời, cần tăng cường sự phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp, giới chuyên môn và người sử dụng để các giải pháp xanh được triển khai phù hợp với điều kiện thực tế.

Về phía doanh nghiệp, tôi cho rằng cần chủ động đưa các mục tiêu xanh vào chiến lược đầu tư và phát triển sản phẩm, lựa chọn giải pháp phù hợp với từng phân khúc thị trường. Quan trọng nhất, phải làm cho lợi ích của công trình xanh trở nên rõ ràng và có thể nhận diện được. Khi đó, công trình xanh sẽ dần trở thành một yêu cầu phổ biến trong hoạt động đầu tư, xây dựng và phát triển đô thị, góp phần nâng cao chất lượng đô thị và thị trường bất động sản Việt Nam.

- Xin trân trọng cảm ơn chia sẻ của chuyên gia!

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Thương hiệu dẫn đầu

Lên đầu trang
Top