Giải phóng nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng cao
Tại thông cáo báo chí về công tác tháo gỡ khó khăn, khơi thông nguồn lực, đồng hành cùng doanh nghiệp và nhà đầu tư ngày 21/7, UBND TP. Đà Nẵng cho biết việc xử lý các dự án tồn đọng được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của thành phố trong năm 2026. Đến nay, Đà Nẵng đã công bố danh mục 354 dự án, khu đất cần tập trung tháo gỡ theo cơ chế đặc thù; hoàn thành xử lý 1.985/2.035 dự án theo Kết luận 77 của Bộ Chính trị, đạt 97,5%; đồng thời xử lý 206/354 dự án thuộc phạm vi Nghị quyết số 170 và Nghị quyết số 29, đạt 58,2%.
Không chỉ tại Đà Nẵng, việc rà soát và tháo gỡ các dự án tồn đọng đang được triển khai trên phạm vi cả nước. Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương đang tập trung phân loại các nhóm vướng mắc để xử lý theo thẩm quyền hoặc đề xuất cơ chế đặc thù đối với những trường hợp vượt thẩm quyền. Mục tiêu là khơi thông nguồn lực đất đai, vốn đầu tư và tạo điều kiện để các dự án đủ điều kiện pháp lý sớm được tiếp tục triển khai.
Theo Bộ Tài chính, đến hết quý I/2026, cả nước có 4.489 dự án, đất đai gặp khó khăn, vướng mắc với quy mô hơn 198.000 ha và tổng mức đầu tư trên 3,3 triệu tỷ đồng. Trong số này, các bộ, ngành và địa phương đã xử lý theo thẩm quyền 1.022 dự án; 2.610 dự án đã được báo cáo cấp có thẩm quyền để chuẩn bị ban hành cơ chế, chính sách đặc thù; 857 dự án đang tiếp tục được rà soát, hoàn thiện phương án xử lý.

TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia.
Chia sẻ với Reatimes, TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia đánh giá, kết quả xử lý hơn 1.000 dự án thời gian qua là tín hiệu tích cực trong công tác tháo gỡ các dự án tồn đọng. Đồng thời, kết quả này cũng tạo cơ sở thực tiễn để tiếp tục tháo gỡ các dự án còn lại.
“Quá trình xử lý các dự án tồn đọng là một “phép thử” đối với các cơ chế, chính sách mới. Trên cơ sở đó, các quy định tiếp tục được hoàn thiện, góp phần nâng cao chất lượng thực thi và tạo nền tảng cho việc xử lý các dự án tồn đọng hiệu quả hơn trong thời gian tới”, TS. Võ Trí Thành nhìn nhận.
Theo ông, việc xử lý các dự án tồn đọng giúp khơi thông nguồn lực đất đai, vốn đầu tư và tài sản đang bị “đóng băng”, đồng thời tạo tín hiệu tích cực đối với môi trường đầu tư, kinh doanh. Khi các điểm nghẽn được tháo gỡ, dòng vốn sẽ có điều kiện quay trở lại nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên.
Theo tính toán, có hơn 3,3 triệu tỷ đồng tổng mức đầu tư của gần 4.500 dự án tồn đọng là khối nguồn lực có quy mô rất lớn. Khi các dự án được tái khởi động, dòng vốn sẽ được lưu thông trở lại, tạo hiệu ứng lan tỏa tới nhiều lĩnh vực như xây dựng, vật liệu, vận tải, tài chính, dịch vụ..., qua đó thúc đẩy tổng cầu, nâng cao năng lực cung ứng và tạo thêm việc làm.
Tuy nhiên, TS. Võ Trí Thành cũng lưu ý, phần lớn các dự án chưa được xử lý đều có tính chất phức tạp, liên quan nhiều quy định pháp luật, nhiều cơ quan quản lý và trách nhiệm của các bên liên quan. Vì vậy, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, điều quan trọng là nâng cao hiệu quả tổ chức thực thi, phát huy vai trò chủ động của chính quyền địa phương và trách nhiệm của người đứng đầu trong rà soát, phân loại, lựa chọn phương án xử lý phù hợp đối với từng dự án.
Quyết liệt hơn ở khâu thực thi
Dù nhiều cơ chế đặc thù đã được ban hành nhằm tháo gỡ các dự án tồn đọng, thực tế cho thấy phần lớn những dự án còn lại đều là các trường hợp phức tạp, liên quan nhiều quy định pháp luật hoặc vượt thẩm quyền xử lý của địa phương. Điều này đặt ra yêu cầu cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, đồng thời phải nâng cao hiệu quả tổ chức thực thi.
Theo TS. Võ Trí Thành, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế, các địa phương cần quyết liệt hơn và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu. Các địa phương cần phát huy vai trò chủ động trong rà soát, đề xuất phương án xử lý đối với từng dự án; đồng thời có cơ chế bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, trên cơ sở bảo đảm công khai, minh bạch và tuân thủ đúng quy định pháp luật.
Đồng quan điểm về yêu cầu nâng cao hiệu quả thực thi, dưới góc độ pháp lý, PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến, Trưởng khoa Pháp luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), Trưởng ban Pháp chế Hiệp hội Bất động sản Việt Nam (VNREA), cho rằng cần thể hiện rõ hơn quy định về bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, trong các văn bản pháp luật và các cơ chế, chính sách liên quan.
“Đối với những trường hợp người có thẩm quyền đã thực hiện đúng quy định pháp luật tại thời điểm ban hành quyết định, không có động cơ vụ lợi hay vi phạm pháp luật, thì nếu sau này chính sách, pháp luật thay đổi cũng không nên xem xét, truy cứu trách nhiệm đối với họ.
Phải có cơ chế rõ ràng bảo vệ những cán bộ thực hiện đúng chức trách, đúng pháp luật và vì lợi ích chung thì mới tạo được tâm lý yên tâm cho đội ngũ thực thi. Nếu không, tâm lý e ngại, sợ sai, sợ trách nhiệm sẽ tiếp tục tồn tại và ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ xử lý các dự án tồn đọng cũng như quá trình khơi thông nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội”, ông Tuyến cho biết.

PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến, Trưởng khoa Pháp luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), Trưởng ban Pháp chế Hiệp hội Bất động sản Việt Nam (VNREA).
Theo ông, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết đối với những dự án có hồ sơ kéo dài qua nhiều giai đoạn, chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật và phát sinh vướng mắc do chính sách thay đổi theo thời gian.
Theo PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến, thời gian qua, hành lang pháp lý để xử lý các dự án tồn đọng đã từng bước được hoàn thiện theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng và tăng cường phân cấp, phân quyền. Từ chủ trương của Bộ Chính trị tại Kết luận số 77-KL/TW, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 170/2024/QH15 để thí điểm cơ chế đặc thù tại một số địa phương; tiếp đó mở rộng phạm vi áp dụng trên toàn quốc thông qua Nghị quyết số 265/2025/QH15. Chính phủ cũng ban hành Nghị quyết số 17/NQ-CP, giao rõ trách nhiệm cho các bộ, ngành, địa phương trong việc rà soát, phân loại, xử lý các dự án tồn đọng, đồng thời yêu cầu không để kéo dài tình trạng lãng phí tài sản của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.
Điểm mới quan trọng của cơ chế hiện hành là chuyển mạnh theo hướng phân cấp cho địa phương. Nếu trước đây việc áp dụng cơ chế đặc thù phải tổng hợp, trình Chính phủ ban hành danh mục dự án thì nay, theo Nghị quyết số 29/2026/QH16, địa phương được chủ động rà soát, quyết định áp dụng cơ chế đối với từng dự án và chịu trách nhiệm toàn diện trong quá trình thực hiện.
Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến, phân cấp không đồng nghĩa với nới lỏng quản lý. Phần lớn các dự án còn lại đều có lịch sử pháp lý phức tạp, liên quan nhiều giai đoạn, nhiều cơ quan và nhiều quy định pháp luật khác nhau. Vì vậy, quá trình tháo gỡ phải được thực hiện trên cơ sở thượng tôn pháp luật, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.
PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến cũng cho rằng, cần xây dựng tiêu chí cụ thể đối với từng nhóm dự án để lựa chọn phương án xử lý phù hợp. Những trường hợp chỉ vướng về thủ tục hoặc phát sinh bất cập do sự thay đổi của pháp luật có thể được xem xét hoàn thiện hồ sơ, thực hiện các thủ tục điều chỉnh cần thiết theo quy định, xác định lại nghĩa vụ tài chính hoặc bổ sung các thủ tục còn thiếu. Đối với những dự án mà chủ đầu tư không còn đủ năng lực, cần có cơ chế chuyển nhượng, thay thế nhà đầu tư hoặc thu hồi để lựa chọn chủ thể mới.
Riêng các dự án có vi phạm nghiêm trọng, việc xử lý phải căn cứ trên kết luận của cơ quan có thẩm quyền, xác định rõ phần việc có thể khắc phục và phần buộc phải thu hồi, bảo đảm vừa xử lý nghiêm các sai phạm, vừa tránh để nguồn lực đất đai, tài sản và vốn đầu tư tiếp tục bị lãng phí.
“Cũng cần nhìn nhận rằng đây đều là những dự án có vướng mắc tồn tại trong nhiều năm, nên quá trình xử lý chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khó khăn, phát sinh mới. Vì vậy, trong quá trình thực hiện, Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền sẽ cần tiếp tục chỉ đạo, rà soát và tháo gỡ từng bước, từng phần để bảo đảm vừa đúng quy định pháp luật, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển”, PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến tin tưởng.