Nghị định 49/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 31/1/2026 quy định cụ thể các trường hợp được sửa đổi bảng giá đất cũng như căn cứ để xây dựng, điều chỉnh, bổ sung bảng giá đất, nhằm bảo đảm phù hợp với biến động thị trường và yêu cầu quản lý nhà nước về đất đai.
Theo khoản 2 Điều 6 của Nghị định, bảng giá đất được sửa đổi trong ba trường hợp.
Thứ nhất, khi hệ số điều chỉnh mức biến động thị trường quy định tại Phụ lục kèm theo Nghị định được sửa đổi và hệ số này vượt quá mức tối đa hoặc thấp hơn mức tối thiểu do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định.

Chính thức 3 trường hợp được sửa đổi bảng giá đất theo Nghị định mới. Ảnh minh họa
Thứ hai, khi có thay đổi về địa giới hành chính, tên khu vực, vị trí, tên đường, phố hoặc đoạn đường trong bảng giá đất nhưng không làm thay đổi mức giá đất đã được ban hành.
Thứ ba, trong các trường hợp phát sinh từ yêu cầu quản lý nhà nước về đất đai và quản lý giá đất, ngoài hai trường hợp nêu trên.
Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 6 Nghị định 49/2026/NĐ-CP quy định việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung bảng giá đất phải dựa trên hệ thống căn cứ pháp lý và thực tiễn rõ ràng. Trước hết là các quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 158 Luật Đất đai 2024 và Điều 6 Nghị quyết 254/2025/QH15 của Quốc hội. Đồng thời, việc định giá đất phải tuân thủ các phương pháp được quy định tại các điểm a, b, c khoản 5 và khoản 6 Điều 158 Luật Đất đai; các Điều 4, 5 và 6 Nghị định 71/2024/NĐ-CP, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 151/2025/NĐ-CP và Nghị định 226/2025/NĐ-CP.
Trong trường hợp phương pháp định giá đất yêu cầu ước tính tổng chi phí đầu tư xây dựng, cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào suất vốn đầu tư xây dựng do UBND cấp tỉnh công bố; nếu địa phương chưa ban hành thì sử dụng suất vốn do Bộ Xây dựng công bố. Ngoài ra, quá trình xây dựng và điều chỉnh bảng giá đất còn phải xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất theo Điều 8 Nghị định 71/2024/NĐ-CP; kết quả tổng hợp, phân tích thông tin về giá đất thị trường; kết quả thực hiện bảng giá đất đang áp dụng; điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương; cũng như yêu cầu quản lý nhà nước về đất đai và giá đất trong từng giai đoạn.
Quy định này nhằm bảo đảm bảng giá đất được điều chỉnh linh hoạt, sát thực tiễn, đồng thời giữ vững nguyên tắc minh bạch, thống nhất và phù hợp với khung pháp lý hiện hành.