Dự án Nhà máy nhiệt điện LNG Cà Ná là hợp phần giai đoạn 1 của Tổ hợp điện khí LNG Cà Ná – một trong những trung tâm điện khí quy mô lớn được quy hoạch tại khu vực Nam Trung Bộ. Ý tưởng phát triển tổ hợp này đã được Chính phủ thống nhất về nguyên tắc từ năm 2020 khi xem xét bổ sung vào Quy hoạch điện VII điều chỉnh.
Trên cơ sở đó, tỉnh Ninh Thuận (trước khi sắp xếp đơn vị hành chính) đã phê duyệt quy hoạch chi tiết khu vực Tổ hợp điện khí LNG Cà Ná với định hướng phát triển 4 nhà máy điện tua-bin khí chu trình hỗn hợp, tổng công suất khoảng 6.000MW, đi kèm hệ thống kho chứa và cảng LNG có công suất tiếp nhận 4,8 triệu tấn mỗi năm.
Theo quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư, giai đoạn đầu của tổ hợp sẽ triển khai xây dựng Nhà máy nhiệt điện LNG Cà Ná với công suất 1.500MW, sử dụng công nghệ tua-bin khí chu trình hỗn hợp (CCGT). Dự án được quy hoạch tại xã Cà Ná, tỉnh Khánh Hòa, trên tổng diện tích đất và mặt nước khoảng 180ha. Trong đó, hơn 31ha dành cho khu nhà máy và hệ thống hạ tầng kỹ thuật trên bờ; gần 114ha mặt biển được bố trí cho kho chứa LNG, khu tái hóa khí, cảng nhập LNG, hệ thống đường ống và đê chắn sóng. Ngoài ra, khoảng 35ha diện tích tạm thời sẽ được sử dụng phục vụ thi công.

Nhà máy được quy hoạch tại xã Cà Ná, tỉnh Khánh Hòa, trên tổng diện tích sử dụng đất và mặt nước khoảng 180ha. Ảnh: Petro Times
Đi kèm nhà máy là hệ thống kho chứa, cảng nhập LNG và tái hóa khí có khả năng tiếp nhận từ 1 - 1,2 triệu tấn LNG mỗi năm. Hệ thống này bao gồm một bồn chứa LNG dung tích khoảng 220.000 m³ cùng các công trình hạ tầng kỹ thuật phục vụ lưu trữ và tái hóa khí. Dự án cũng đầu tư bến cảng nhập LNG, đê chắn sóng phía Đông dài khoảng 2,4 km cùng nhiều hạng mục phụ trợ khác nhằm bảo đảm vận hành đồng bộ toàn bộ chuỗi cung ứng nhiên liệu.
Theo hồ sơ dự án, quy mô sử dụng đất đã được điều chỉnh sau quá trình khảo sát thực địa. Chủ đầu tư cho biết một phần diện tích theo quy hoạch ban đầu nằm gần khu vực rừng phòng hộ và địa hình đồi núi phức tạp, tiềm ẩn rủi ro trong quá trình san gạt mặt bằng. Việc điều chỉnh được thực hiện nhằm tránh chồng lấn với quy hoạch lâm nghiệp, đồng thời bảo đảm tính khả thi và hiệu quả khai thác lâu dài của dự án.
Về công nghệ, nhà máy sử dụng tua-bin khí chu trình hỗn hợp (CCGT), kết hợp giữa tua-bin khí và tua-bin hơi để tối ưu hiệu suất phát điện. LNG sau khi được tái hóa khí sẽ được đưa vào tua-bin khí để sản xuất điện năng. Phần nhiệt thải phát sinh tiếp tục được thu hồi để vận hành tua-bin hơi, qua đó nâng cao hiệu suất sử dụng nhiên liệu và giảm lượng phát thải so với nhiều loại hình nhiệt điện truyền thống.
Khi đi vào vận hành, Nhà máy nhiệt điện LNG Cà Ná dự kiến cung cấp khoảng 9 tỷ kWh điện mỗi năm cho hệ thống điện quốc gia. Nguồn điện mới này được kỳ vọng góp phần tăng cường độ tin cậy của hệ thống điện, giảm áp lực cho lưới truyền tải và đáp ứng nhu cầu điện năng ngày càng gia tăng của nền kinh tế trong giai đoạn tới.
Tổng mức đầu tư dự kiến của dự án khoảng 57.384,78 tỷ đồng, được huy động từ vốn chủ sở hữu và vốn vay của nhà đầu tư. Theo kế hoạch, dự án sẽ bước vào giai đoạn chuẩn bị đầu tư từ năm 2026, khởi công trong quý IV cùng năm và hoàn thành xây dựng vào đầu năm 2030, trước khi chính thức đưa vào vận hành chậm nhất vào ngày 31/12/2030.

Ngày 28/1/2026, UBND tỉnh Khánh Hòa phê duyệt kết quả lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án, trong đó Liên danh Trung Nam - Sideros River là đơn vị trúng thầu và được giao triển khai Nhà máy nhiệt điện LNG Cà Ná. Ảnh: Petro Times
Trong quá trình triển khai, Liên danh Trung Nam – Sideros River có trách nhiệm bảo đảm năng lực tài chính, huy động đầy đủ nguồn vốn theo cam kết và thực hiện đúng các nghĩa vụ đã đề xuất trong hồ sơ dự thầu.
Việc lựa chọn được nhà đầu tư cho Nhà máy nhiệt điện LNG Cà Ná được xem là bước tiến quan trọng trong lộ trình hình thành trung tâm điện khí LNG quy mô lớn tại Nam Trung Bộ. Không chỉ góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, dự án còn được kỳ vọng tạo động lực tăng trưởng mới cho địa phương thông qua việc thúc đẩy nhu cầu về lao động, logistics, vận tải, xây dựng và các ngành dịch vụ liên quan.
Bên cạnh đó, việc hình thành hệ thống cảng biển, kho LNG và hạ tầng kỹ thuật đồng bộ được đánh giá sẽ tạo nền tảng quan trọng để phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, kinh tế biển và dịch vụ công nghiệp trong tương lai, mở rộng dư địa phát triển cho tỉnh Khánh Hòa cũng như khu vực Nam Trung Bộ.