Vốn mở, dự án lớn, tư duy “đồng kiến tạo hệ sinh thái” và “hiệu ứng tích tụ”
Khát vọng 2045 đang thúc đẩy một làn sóng đổi mới trên hầu khắp mọi phương diện phát triển quốc gia. Cùng với sự ra đời của nhiều nghị quyết chiến lược hướng tới mục tiêu đưa đất nước vươn tới hùng cường, nền kinh tế đang được kiến tạo những nền tảng, động lực phát triển mới mang tính dài hạn. Chuyển biến rõ nhất trong năm 2026 là hàng loạt dự án lớn, trọng điểm từ Bắc chí Nam được quyết liệt triển khai với sự đồng hành của các doanh nghiệp đầu tàu như Vingroup, Sun Group... Từ đường sắt tốc độ cao kết nối vùng, sân bay quốc tế, hạ tầng giao thông đô thị đến các dự án đại đô thị, tổ hợp du lịch và dịch vụ, phạm vi đầu tư của các doanh nghiệp lớn đã mở rộng ra những lĩnh vực có khả năng tạo kết nối và tác động liên vùng.
“Không còn phát triển dự án bất động sản nhỏ lẻ, nhiều doanh nghiệp đang từng bước hiện diện trong những mạng lưới gồm hạ tầng, đô thị, du lịch và dịch vụ có khả năng bổ trợ lẫn nhau. Khi được tổ chức tốt, mỗi cấu phần có thể trở thành điều kiện để cấu phần khác phát huy hiệu quả, từ đó mở rộng thị trường và tạo thêm năng lực phát triển cho nền kinh tế”, PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng, Giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế Quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân nhìn nhận.
Các công trình, dự án quy mô lớn, trọng điểm, có tính chất lan tỏa, liên kết, thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, địa phương có nhu cầu vốn vay rất lớn. Chính vì vậy, Ngân hàng Nhà nước đã có hướng dẫn việc cấp tín dụng đối với một số dự án trọng điểm bao gồm nhóm dự án phục vụ cho Hội nghị APEC; các dự án thực hiện theo hình thức PPP; các dự án đường sắt tốc độ cao (tuyến Bến Thành - Cần Giờ và Hà Nội - Quảng Ninh); các dự án thuộc Cảng hàng không quốc tế Gia Bình... tại văn bản số 5386/NHNN-TD. Theo đó, trường hợp NHTM cấp tín dụng/cho vay để doanh nghiệp thực hiện các dự án nêu trên thì NHTM được loại trừ dư nợ cấp tín dụng/cho vay phát sinh mới hàng năm đối với khách hàng đề triển khai các dự án đó, khi tính toán áp dụng mức tăng trưởng tín dụng hàng năm của NHTM. Chính sách này tạo điều kiện để doanh nghiệp và các NHTM chủ động trong việc tiếp cận, trao đổi và quyết định việc cấp tín dụng.
Tiếp nối cuộc trao đổi với Tạp chí điện tử Bất động sản Việt Nam (Reatimes) về chuỗi điều chỉnh tín dụng bất động sản theo hướng mở của Ngân hàng Nhà nước, PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng nhấn mạnh rằng, việc mở thêm dư địa tín dụng cần được nhìn trong một phạm vi rộng hơn câu chuyện gia tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp hay bổ sung vốn cho các dự án lớn.
Vấn đề cần nhìn xa hơn ở giai đoạn này là nguồn lực sau khi được khơi thông sẽ tiếp tục tạo ra những giá trị gì cho nền kinh tế. Theo ông, sức lan tỏa của một dự án lớn được hình thành khi phía sau nó xuất hiện thêm thị trường, việc làm, doanh nghiệp và những hoạt động kinh tế mới.
Từ điểm nhìn đó, cuộc trao đổi tiếp tục đi sâu vào cách những nguồn lực mới được chuyển hóa thành năng lực phát triển của nền kinh tế, qua hạ tầng, du lịch, đô thị, liên kết vùng và vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp.
“Khi nguồn vốn được phân bổ đúng hướng sẽ tạo động lực cho các doanh nghiệp phát huy vai trò đồng kiến tạo hệ sinh thái, bồi đắp thêm năng lực tăng trưởng cho nền kinh tế”, PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng khẳng định.
Phối cảnh Vinhomes Global Gate Hạ Long.
- Thưa ông, sau câu chuyện về phân bổ và khả năng hấp thụ vốn, một vấn đề đáng quan tâm hơn là những nguồn lực đó sẽ tạo thêm năng lực phát triển gì cho nền kinh tế. Hiện nhiều dự án hạ tầng quy mô lớn đang được thúc đẩy với sự tham gia ngày càng rõ của khu vực tư nhân. Theo ông, điều gì quyết định một công trình hạ tầng thực sự trở thành động lực tăng trưởng dài hạn?
PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng: Tôi cho rằng quy mô vốn hay chiều dài của một công trình chưa nói hết được giá trị của hạ tầng. Một dự án thực sự trở thành động lực tăng trưởng khi nó tạo thêm năng lực kết nối, mở ra những hướng tổ chức sản xuất và kinh doanh mới, đồng thời kéo được các nguồn lực khác cùng tham gia.
Tiêu chí đầu tiên là mức độ kết nối mạng lưới. Một tuyến đường nếu chỉ nối hai điểm thì giá trị sẽ khác với một tuyến được đặt trong mạng lưới gồm cao tốc, cảng biển, sân bay, đường sắt, khu công nghiệp và các trung tâm đô thị. Khi nhiều phương thức vận tải và nhiều trung tâm kinh tế được kết nối với nhau, hiệu quả của từng cấu phần có thể được nâng lên. Hạ tầng khi đó không còn là một công trình riêng lẻ mà trở thành một bộ phận của hệ thống.
Tiêu chí thứ hai là khả năng tạo ra những quyết định đầu tư mới. Một dự án hạ tầng tốt phải khiến doanh nghiệp nhìn thấy thêm những địa điểm có thể đặt nhà máy, trung tâm logistics, cơ sở dịch vụ, văn phòng, khu đô thị, du lịch hoặc những hoạt động kinh doanh khác mà trước đây chưa đủ điều kiện hình thành. Tôi cho rằng đây là một thước đo rất quan trọng. Nếu sau một tuyến giao thông mới, khu vực xung quanh bắt đầu xuất hiện thêm những hoạt động sản xuất, dịch vụ và các dự án tiếp nối thì có nghĩa hạ tầng đã phát huy vai trò như một nền tảng phát triển.
Ở góc độ rộng hơn, cần nhìn vào khả năng hình thành những nút giao và hành lang kinh tế mới. Hạ tầng có thể làm thay đổi vị trí tương đối của một địa phương trong mạng lưới kinh tế. Một nơi trước đây nằm ở cuối tuyến có thể trở thành điểm trung chuyển; một khu vực từng ở ngoài dòng đầu tư có thể trở thành cửa ngõ; những trung tâm trước đây phát triển tương đối độc lập có thể được đưa vào cùng một không gian kinh tế. Khi đó, tác động của hạ tầng đã mở rộng ra ngoài phạm vi giao thông và bắt đầu tác động đến cấu trúc phát triển của cả vùng.
Tôi cũng muốn nhấn mạnh yêu cầu về tính đồng bộ. Hạ tầng giao thông chỉ phát huy tốt khi được kết nối với logistics, năng lượng, hạ tầng số, dữ liệu và các dịch vụ hỗ trợ. Một khu vực dù có giao thông thuận lợi nhưng năng lực logistics còn yếu, hạ tầng số hạn chế hoặc các phương thức vận tải chưa kết nối hiệu quả thì sức hút đối với doanh nghiệp vẫn bị giảm đáng kể. Vì vậy, điều quan trọng ngày càng nằm ở chất lượng và mức độ hoàn chỉnh của cả hệ thống kết nối.
Một tiêu chí khác là khả năng thích ứng và mở rộng trong dài hạn. Những công trình lớn thường có vòng đời hàng chục năm, nên thiết kế hôm nay phải tính đến nhu cầu của tương lai, từ công nghệ, phương thức vận tải mới đến yêu cầu về môi trường và khả năng mở rộng công suất. Nếu chỉ đáp ứng nhu cầu trước mắt, hạ tầng rất dễ trở thành điểm nghẽn mới khi quy mô nền kinh tế tăng lên.
Ở góc độ này, sự tham gia ngày càng sâu của khu vực tư nhân vào phát triển hạ tầng là một chuyển động đáng chú ý. Những doanh nghiệp có năng lực triển khai các dự án quy mô lớn có thể bổ sung công nghệ, kinh nghiệm quản trị và khả năng tổ chức nhiều cấu phần trong cùng một hệ thống. Tuy nhiên, ý nghĩa của một dự án sau cùng vẫn nằm ở những năng lực phát triển mới mà nó bổ sung cho nền kinh tế, thay vì chỉ được nhìn qua quy mô vốn đầu tư hay tiến độ xây dựng.
Nói cách khác, một dự án hạ tầng có sức lan tỏa thực sự là dự án sau khi hình thành có thể kéo thêm những dự án khác, mở ra những địa điểm đầu tư mới, kết nối các trung tâm kinh tế và làm cho nguồn lực trong toàn khu vực được tổ chức hiệu quả hơn. Khi một đồng vốn đầu tư vào hạ tầng có khả năng kích hoạt nhiều quyết định đầu tư tiếp theo, lúc đó công trình mới thực sự trở thành một động lực tăng trưởng dài hạn.
- Việc Ngân hàng Nhà nước tạo thêm dư địa tín dụng cho nhóm dự án trọng điểm cũng xuất phát từ đánh giá về khả năng liên kết, lan tỏa và thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, địa phương. Từ những tiêu chí ông vừa phân tích, nếu nhìn sâu hơn vào tác động đối với tăng trưởng, việc khơi thông nguồn vốn cho những dự án này có thể tạo ra những tác động gì trong ngắn hạn và dài hạn?
PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng: Theo tôi, cần nhìn những dự án này ở cả hai thời điểm: Khi đang đầu tư và khi đã đi vào khai thác.
Trong giai đoạn đầu tư, một dự án lớn trước hết tạo thêm cầu cho nền kinh tế. Nhưng điều đáng quan tâm hơn là nó có thể kéo theo những quyết định đầu tư khác. Khi một tuyến đường sắt, sân bay hay hệ thống hạ tầng phục vụ một sự kiện quốc tế được triển khai với quy mô và tiến độ đủ rõ, doanh nghiệp bắt đầu tính đến chuyện mở rộng năng lực, chuẩn bị phương tiện, kho bãi, công nghệ, nhân lực và các dịch vụ đi kèm. Nói cách khác, một khoản đầu tư lớn có thể kích hoạt thêm nhiều khoản đầu tư khác xung quanh nó.
Tuy nhiên, giá trị dài hạn lớn hơn nằm ở phía tổng cung. Khi công trình hoàn thành và đi vào khai thác, nền kinh tế có thêm năng lực mà trước đó chưa có hoặc còn thiếu. Một tuyến đường sắt tốc độ cao bổ sung năng lực vận tải; một sân bay mở rộng thêm khả năng kết nối trong nước và quốc tế; một hệ thống giao thông mới có thể tăng khả năng tiếp cận các trung tâm sản xuất, đô thị và dịch vụ. Những năng lực đó tồn tại trong nhiều năm và trở thành đầu vào chung cho rất nhiều hoạt động kinh tế.
Ở đây cần chú ý đến một khái niệm quan trọng là chi phí vận hành của cả nền kinh tế. Doanh nghiệp hoạt động không chỉ chịu chi phí sản xuất trực tiếp mà còn chịu chi phí vận chuyển, thời gian, kho bãi, kết nối thị trường và mức độ tin cậy của hạ tầng. Nếu một dự án giúp những chi phí này giảm xuống hoặc làm cho quá trình lưu chuyển ổn định hơn, thì hiệu quả không thuộc riêng doanh nghiệp đầu tư công trình mà rất nhiều doanh nghiệp sử dụng hạ tầng đó cũng được hưởng lợi. Đây là lý do hạ tầng có khả năng tác động đến năng suất và sức cạnh tranh ở phạm vi rộng.
Một điểm nữa là những công trình lớn có thể nâng “trần” phát triển của một khu vực. Có những địa phương có tài nguyên du lịch, quỹ đất, nguồn lao động hoặc vị trí thuận lợi nhưng khả năng phát triển vẫn bị giới hạn bởi năng lực kết nối. Khi điểm nghẽn đó được tháo gỡ, những tiềm năng vốn đã tồn tại mới có điều kiện chuyển thành hoạt động kinh tế thực tế. Vì thế, cải thiện tổng cung không đơn giản là tạo thêm một công trình, mà là mở thêm khả năng sản xuất, cung ứng dịch vụ và tiếp nhận các dòng đầu tư trong tương lai.


Phối cảnh nhà ga Cổ Loa (trái) và phối cảnh ga Hạ Long của tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh (phải).
Nhìn tổng thể, tác động của nguồn vốn diễn ra theo hai chiều. Trong ngắn hạn, nguồn vốn đầu tư có thể tạo thêm động lực cho tổng cầu và khuyến khích các chủ thể khác đưa ra quyết định đầu tư. Trong dài hạn, hạ tầng mới bổ sung năng lực vận tải, kết nối và dịch vụ, qua đó mở rộng khả năng cung ứng của nền kinh tế. Khi hai quá trình này gặp nhau, tác động của vốn có thể chuyển từ một cú hích trong giai đoạn xây dựng thành năng lực tăng trưởng có tính lâu dài.
Vì vậy, điều quan trọng là sau khi hoàn thành, công trình đó được bao nhiêu ngành, bao nhiêu doanh nghiệp và bao nhiêu địa phương cùng khai thác. Phạm vi sử dụng càng rộng, khả năng tạo tác động kinh tế càng lớn. Đó chính là tư duy phát triển theo hệ sinh thái mà một số doanh nghiệp lớn của Việt Nam đang theo đuổi trên hành trình đồng kiến tạo năng lực phát triển của nền kinh tế.
- Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới cũng đặt định hướng phát triển du lịch theo hệ sinh thái kinh tế tổng hợp, tạo động lực phát triển thương mại, dịch vụ, giao thông vận tải, công nghiệp văn hoá, công nghiệp sáng tạo, nông nghiệp, kinh tế số, kinh tế đêm và các ngành, lĩnh vực khác, vừa cộng hưởng nâng cao giá trị gia tăng, vừa bảo đảm sự gắn kết, phát triển bền vững các trụ cột kinh tế - văn hoá - xã hội - môi trường… Theo ông, với hạ tầng du lịch, tư duy hệ sinh thái trong việc phát triển các dự án lớn khi được tín dụng tiếp sức sẽ có khả năng tạo ra sức bật như thế nào?
PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng: Tôi cho rằng cơ hội lớn nhất hiện nay là sử dụng dòng vốn để nâng chất lượng và hoàn thiện năng lực của từng điểm đến, từ cơ cấu sản phẩm, hiệu quả khai thác đến khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Du lịch về bản chất là một chuỗi trải nghiệm nối tiếp nhau, từ tiếp cận điểm đến, lưu trú, ăn uống, vui chơi đến các hoạt động về đêm. Giá trị kinh tế của một điểm đến phụ thuộc rất nhiều vào việc những trải nghiệm đó có được tổ chức thành một hành trình đủ hấp dẫn để giữ khách ở lại lâu hơn, sử dụng thêm dịch vụ và có lý do quay trở lại hay không. Nếu các cấu phần phát triển rời rạc, quy mô đầu tư lớn chưa chắc đã tạo ra giá trị tương xứng.


Các sản phẩm vui chơi, giải trí tại VinWonders góp phần kéo dài thời gian trải nghiệm của du khách, đồng thời mở rộng nhu cầu chi tiêu cho nhiều dịch vụ trong cùng một hành trình.
Tinh thần này được thể hiện khá rõ trong Nghị quyết số 26, khi du lịch được định hướng phát triển theo một hệ sinh thái kinh tế tổng hợp, gắn với nhiều ngành và hướng tới nâng cao chất lượng trải nghiệm. Nghị quyết đồng thời đề cập phát triển hạ tầng kết nối, các tổ hợp du lịch, văn hóa, thể thao, giải trí, mua sắm và cơ sở lưu trú chất lượng cao. Điều đó cho thấy dư địa phát triển của du lịch nằm ở việc hoàn thiện ngày càng đầy đủ hơn cấu trúc sản phẩm và dịch vụ của từng điểm đến.
Vì vậy, nguồn vốn được khơi thông cần ưu tiên vào những mắt xích mà điểm đến còn thiếu hoặc còn yếu. Có nơi cần nâng chất lượng lưu trú, có nơi cần bổ sung trải nghiệm, dịch vụ chuyên biệt hoặc những sản phẩm có khả năng mở rộng thị trường ngoài mùa cao điểm. Mỗi điểm đến có cấu trúc nguồn khách và lợi thế khác nhau, nên hiệu quả đầu tư phụ thuộc rất nhiều vào việc lựa chọn đúng những cấu phần có khả năng bổ sung và hoàn thiện giá trị của điểm đến.
Một yêu cầu khác là nâng hiệu quả khai thác quanh năm. Nhiều điểm đến của Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng khá rõ của tính mùa vụ, trong khi khách sạn, khu nghỉ dưỡng và hạ tầng du lịch đều là những tài sản có chi phí đầu tư và vận hành cao. Nếu công suất chỉ tập trung vào một vài tháng cao điểm, hiệu quả sử dụng vốn và khả năng duy trì hoạt động ổn định của cả hệ thống dịch vụ sẽ bị hạn chế.
Muốn những khoản đầu tư này tạo ra giá trị bền vững, năng lực tổ chức và vận hành cũng phải được nâng lên tương ứng. Nhân lực, quản trị, dữ liệu khách hàng, thương hiệu, khả năng tiếp cận thị trường và sự phối hợp giữa các chủ thể đều có vai trò rất quan trọng. Một khách sạn hay khu nghỉ dưỡng có thể được xây dựng trong vài năm, nhưng để nó trở thành một phần hiệu quả của cả điểm đến thì cần một hệ thống vận hành đủ tốt phía sau.
Ở góc độ cạnh tranh quốc tế, lợi thế tài nguyên chỉ là điểm khởi đầu. Du khách ngày nay đánh giá điểm đến trên một tập hợp rất rộng các yếu tố, từ khả năng tiếp cận, chất lượng lưu trú, mức độ đa dạng của sản phẩm đến an toàn, tính chuyên nghiệp và sự thuận tiện trong suốt chuyến đi. Khả năng đầu tư đúng vào những phần còn thiếu, nâng chất lượng dịch vụ và tạo ra các sản phẩm có giá trị cao hơn mới quyết định sức cạnh tranh dài hạn.
Giá trị của dòng vốn được khơi thông cần được thể hiện ở một cấu trúc sản phẩm hợp lý hơn, hiệu quả khai thác tài sản cao hơn, năng lực vận hành tốt hơn và sức cạnh tranh mạnh hơn của điểm đến. Khi những thay đổi đó được tạo ra, nguồn vốn mới thực sự trở thành một phần của năng lực phát triển dài hạn của ngành du lịch.
- Từ yêu cầu nâng chất lượng và giá trị gia tăng của điểm đến, một vấn đề đặt ra là Việt Nam còn có thể mở rộng những dòng sản phẩm nào để tiếp cận các phân khúc thị trường có giá trị cao hơn. Theo ông, đâu là những loại hình còn nhiều dư địa phát triển, vừa có khả năng kéo dài thời gian lưu trú, gia tăng mức chi tiêu, vừa tạo thêm lý do để du khách lựa chọn và quay trở lại Việt Nam?
PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng: Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển những sản phẩm du lịch có giá trị gia tăng cao hơn. Cảnh quan, văn hóa, ẩm thực và sự đa dạng của các vùng miền là những lợi thế rất lớn. Vấn đề là chuyển những lợi thế đó thành các sản phẩm đủ chuyên sâu, có chất lượng phục vụ tương xứng và đáp ứng được những nhu cầu ngày càng cụ thể của thị trường.
Một hướng còn nhiều dư địa là du lịch hội nghị, triển lãm và sự kiện. Nhóm khách này thường có yêu cầu cao về tính chuyên nghiệp, khả năng kết nối, chất lượng lưu trú và các dịch vụ đi kèm. Như tại Phú Quốc, Vinpearl đã hình thành một hệ sinh thái gồm lưu trú, hội nghị, golf, vui chơi và giải trí; riêng Trung tâm Hội nghị Vinpearl Phú Quốc có diện tích gần 11.000m2, trong đó phòng Crystal Ballroom có thể phục vụ hơn 1.000 khách. Khi những chức năng này cùng hiện diện, một chuyến đi phục vụ công việc có thể được nối dài bằng nghỉ dưỡng, vui chơi hay trải nghiệm dành cho gia đình. Giá trị kinh tế vì thế không nằm riêng ở doanh thu hội nghị, mà còn được mở rộng sang lưu trú, ẩm thực, vận chuyển và giải trí. Đây là cách một dòng khách MICE có thể tạo ra mức chi tiêu lớn hơn trong cùng một hành trình.
Văn hóa, nghệ thuật và giải trí ban đêm cũng cho thấy khá rõ khả năng làm tăng giá trị của điểm đến. Tại Phú Quốc United Center, những sản phẩm như Tinh hoa Việt Nam, Sắc màu Venice và hệ thống minishow đã được tổ chức với tần suất lớn mỗi năm, qua đó thu hút hàng triệu lượt du khách trong nước và quốc tế. Đến năm 2026, các chương trình này vẫn tiếp tục được duy trì với lịch diễn thường xuyên. Điều đáng chú ý ở đây là hoạt động du lịch được kéo dài sang buổi tối, khi du khách tiếp tục phát sinh nhu cầu về ăn uống, mua sắm, vận chuyển và giải trí thay vì kết thúc hành trình sau các hoạt động ban ngày.


Trung tâm Hội nghị Vinpearl Phú Quốc có diện tích gần 11.000m2, trong đó phòng Crystal Ballroom có thể phục vụ hơn 1.000 khách.



Phú Quốc United Center là “thành phố không ngủ” đầu tiên tại Việt Nam, được đánh giá là “điểm phải đến” mới trên bản đồ du lịch Việt Nam và thế giới.
Ở Nam đảo Phú Quốc, mô hình này còn được thể hiện khá rõ qua Kiss of the Sea - show diễn nghệ thuật - công nghệ trên mặt biển quy mô hàng đầu thế giới tại Thị trấn Hoàng Hôn của Sun Group, thu hút hàng triệu lượt xem. Một sản phẩm biểu diễn diễn ra đều đặn vào buổi tối tạo thêm lý do để khách ở lại điểm đến lâu hơn trong ngày, đồng thời hình thành dòng cầu thường xuyên cho ẩm thực, bán lẻ, vận chuyển và các dịch vụ xung quanh. Đây là một ví dụ cho thấy sản phẩm giải trí có thể chuyển một khoảng thời gian vốn ít hoạt động kinh tế thành một phần có giá trị của hành trình du lịch.
Du lịch chăm sóc sức khỏe cũng có tiềm năng lớn, đặc biệt ở khả năng mở rộng hoạt động ra ngoài mùa cao điểm truyền thống. Yoko Onsen Quang Hanh (Quảng Ninh) là một ví dụ khi tài nguyên khoáng nóng được phát triển thành chuỗi trải nghiệm gồm tắm khoáng, xông hơi, spa, ẩm thực và nghỉ dưỡng. Điểm đáng chú ý của dòng sản phẩm này là khả năng bổ sung nguồn cầu ngoài mùa du lịch biển truyền thống. Khi mô hình wellness bốn mùa được phát triển bài bản và tiếp cận tốt hơn nhóm khách quốc tế cao cấp, có mức chi tiêu cao và xu hướng lưu trú dài ngày, điểm đến sẽ có thêm điều kiện duy trì dòng khách và nâng hiệu quả khai thác hệ thống lưu trú, dịch vụ trong năm.


Kiss of the Sea (Nụ hôn của Biển cả) tại Thị trấn Hoàng Hôn (Sunset Town) là show diễn đa trải nghiệm đẳng cấp và được đầu tư quy mô bậc nhất Việt Nam.


Điều làm nên sự khác biệt ở Yoko Onsen Quang Hanh nằm ở hệ giá trị được gìn giữ, trau chuốt và nhất quán trong từng trải nghiệm chuẩn Nhật.
Một phân khúc khác là nghỉ dưỡng cao cấp gắn với ẩm thực, thiết kế, bản sắc văn hóa và dịch vụ cá nhân hóa. Với nhóm khách có khả năng chi trả cao, giá trị không chỉ nằm ở mức độ sang trọng của cơ sở vật chất mà còn ở chất lượng của từng trải nghiệm. InterContinental Danang Sun Peninsula Resort, với những điểm nhấn như nhà hàng La Maison 1888 cho thấy ẩm thực có thể trở thành một lý do để khách chủ động tìm đến một khu nghỉ dưỡng. Một không gian có bản sắc, một trải nghiệm ẩm thực đặc sắc hay dịch vụ được thiết kế theo nhu cầu riêng đều có thể tạo ra giá trị mà khách sẵn sàng chi trả ở mức cao hơn.
Có thể nói, Việt Nam còn nhiều dư địa để phát triển sâu hơn các dòng sản phẩm như vậy. Khách MICE, khách nghỉ dưỡng sức khỏe, khách gia đình, khách cao cấp hay những người tìm kiếm trải nghiệm văn hóa có mục đích chuyến đi và khả năng chi trả rất khác nhau. Khi sản phẩm được thiết kế sát với từng nhu cầu cụ thể, doanh nghiệp có thể mở rộng thị trường theo chiều sâu và tạo ra giá trị cao hơn trên mỗi phân khúc khách.
Nếu phát triển tốt những hướng này, du lịch Việt Nam có thể tiếp cận nhiều nhóm khách có nhu cầu và khả năng chi trả khác nhau, đồng thời nâng giá trị thu được từ mỗi hành trình. Đây cũng là cơ sở để mở rộng thị trường, tạo thêm những sản phẩm đủ sức cạnh tranh và nâng vị thế của du lịch Việt Nam trên thị trường quốc tế.
- Chuyên gia vừa đề cập một điểm rất đáng chú ý là hiệu quả của dòng vốn còn phụ thuộc vào khả năng khai thác các tài sản du lịch trong năm, trong khi nhiều điểm đến của Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng khá rõ của tính mùa vụ. Nếu đi sâu hơn vào bài toán này, theo ông, cần tổ chức thị trường như thế nào để các mùa thấp điểm vẫn có những dòng khách phù hợp, qua đó duy trì công suất khai thác và tạo nguồn cầu ổn định hơn cho điểm đến?
PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng: Tôi cho rằng muốn giảm tính mùa vụ thì trước hết phải tổ chức thị trường theo từng thời điểm trong năm. Mỗi nhóm khách có mục đích, thời gian đi du lịch và cách sử dụng dịch vụ khác nhau. Vì vậy, điểm đến cần xác định rõ ở từng giai đoạn mình muốn thu hút nhóm khách nào và lựa chọn cách tiếp cận phù hợp với nhu cầu của họ.
Mùa hè có thể tập trung vào khách gia đình và nghỉ dưỡng; những thời điểm khác có thể đẩy mạnh MICE, sự kiện, văn hóa, thể thao, chăm sóc sức khỏe, khách cao tuổi hoặc nhóm kết hợp làm việc với nghỉ dưỡng. Cách làm này giúp điểm đến hình thành nhiều dòng cầu khác nhau trong năm thay vì phụ thuộc quá lớn vào một mùa cao điểm.
Lịch hoạt động của điểm đến cũng cần được tính toán theo hướng đó. Nếu lễ hội, hội nghị, giải thể thao hay các chương trình biểu diễn đều tập trung vào thời gian vốn đã đông khách thì khả năng điều tiết mùa vụ sẽ không nhiều. Ngược lại, những sự kiện đủ sức hút được bố trí vào giai đoạn thấp điểm có thể tạo thêm lý do để khách đến hoặc quay trở lại, đồng thời giúp hệ thống lưu trú, vận tải, ăn uống và vui chơi duy trì công suất tốt hơn.
Cơ cấu thị trường khách cũng cần được mở rộng. Khách nội địa, khách quốc tế hay từng thị trường nguồn có nhịp đi du lịch và mùa cao điểm khác nhau. Nếu tiếp cận được nhiều thị trường hơn, khoảng trống của nhóm khách này ở một thời điểm có thể được bù lại bằng nhu cầu từ nhóm khác, qua đó giúp dòng khách ổn định hơn trong năm.
Dữ liệu vì thế rất quan trọng. Doanh nghiệp và cơ quan quản lý cần biết thời điểm nào công suất phòng giảm, nhóm khách nào đang tăng, sản phẩm nào được sử dụng nhiều, thời gian đặt dịch vụ thay đổi ra sao. Từ những thông tin đó, điểm đến có thể điều chỉnh chương trình, chính sách giá, hoạt động truyền thông và kế hoạch tiếp cận từng thị trường phù hợp hơn với diễn biến thực tế.
Khi dòng khách được duy trì tương đối đều trong năm, hiệu quả kinh tế cũng ổn định hơn. Doanh nghiệp giảm áp lực doanh thu dồn vào vài tháng cao điểm, người lao động có điều kiện duy trì việc làm thường xuyên hơn, còn hạ tầng và tài sản du lịch được khai thác hiệu quả hơn. Đây là cơ sở để một điểm đến từng bước chuyển từ hoạt động theo mùa sang vận hành quanh năm. Điều đáng mừng là Việt Nam đã có những doanh nghiệp dẫn dắt đi theo hướng này.
- Nếu trong du lịch, giá trị được nâng lên khi nhiều sản phẩm và dịch vụ được kết nối thành một hệ sinh thái, thì ở quy mô đô thị, sự tích hợp còn diễn ra toàn diện hơn khi dân cư, việc làm, thương mại, giáo dục, y tế và các dịch vụ cùng tập trung trong một không gian sống thường xuyên. Từ thực tế quan sát xu hướng đầu tư các đại đô thị ở vùng vệ tinh của các nhà phát triển bất động sản lớn trong vài năm trở lại đây, theo ông, đâu là yếu tố quyết định để một đại đô thị không dừng ở chức năng cư trú, mà hình thành một thị trường đủ lớn và từng bước trở thành hạt nhân tăng trưởng mới của khu vực?
PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng: Khi dân cư tập trung đến một quy mô nhất định, nhu cầu về thương mại, giáo dục, y tế, tài chính, vận tải, văn hóa và nhiều dịch vụ khác cũng tăng lên. Quy mô cầu đủ lớn sẽ tạo cơ sở để doanh nghiệp mở cơ sở kinh doanh, đặt văn phòng, tuyển dụng lao động và tiếp tục đầu tư. Từ đây, đô thị bắt đầu hình thành những hoạt động kinh tế của riêng mình, thay vì chủ yếu dựa vào khu vực trung tâm cũ.
Đây là điểm cần phân biệt giữa một dự án bất động sản lớn với một hạt nhân kinh tế mới. Quy mô xây dựng và số lượng cư dân chỉ tạo ra điều kiện ban đầu. Năng lực tăng trưởng xuất hiện khi sự tập trung đó hình thành được một thị trường đủ lớn để thu hút doanh nghiệp, tạo việc làm và duy trì những dòng giao dịch thường xuyên.
Quá trình này có tính tích lũy khá rõ. Dân cư tạo ra nhu cầu; nhu cầu mở ra thị trường; thị trường thu hút doanh nghiệp; doanh nghiệp tạo thêm việc làm và dịch vụ; việc làm lại tiếp tục thu hút lao động và cư dân. Khi vòng vận động này đủ mạnh, đô thị bắt đầu hình thành động lực phát triển từ chính những hoạt động kinh tế bên trong, thay vì chủ yếu dựa vào chức năng nhà ở.
Chiều sâu của thị trường còn phụ thuộc vào cơ cấu dân cư. Nếu đô thị thu hút được lực lượng lao động trẻ, chuyên gia, người có trình độ và những nhóm dân cư có nhu cầu tiêu dùng đa dạng, thị trường hình thành sẽ phong phú hơn và có khả năng tạo thêm những ngành dịch vụ, mô hình kinh doanh mới.
Vì vậy, để đánh giá một đại đô thị đã tiến tới vai trò hạt nhân tăng trưởng hay chưa, cần nhìn vào những chuyển động bên trong như số lượng việc làm được tạo ra, loại hình doanh nghiệp xuất hiện, sức mua của thị trường, khả năng thu hút lao động và mức độ đa dạng của các hoạt động kinh tế. Khi những yếu tố này cùng phát triển, đô thị không còn chỉ là nơi cư trú mà trở thành một không gian có khả năng tự tạo thêm cầu, việc làm và động lực kinh tế.
- Khi bên trong đại đô thị đã hình thành được các chức năng kinh tế và việc làm, hạ tầng kết nối lại quyết định phạm vi ảnh hưởng của đô thị đó có thể mở rộng đến đâu. Theo ông, việc kết nối trực tiếp với đường sắt, cao tốc, sân bay và các trung tâm việc làm lớn sẽ làm thay đổi như thế nào cách phân bố dân cư, phạm vi của thị trường lao động và khả năng hình thành những trung tâm kinh tế mới ngoài khu vực lõi truyền thống?
PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng: Như đã nói, tác động lớn nhất của hạ tầng kết nối là làm thay đổi cách chúng ta hiểu về khoảng cách. Trước đây, khoảng cách giữa nơi ở và nơi làm việc thường bị giới hạn khá nhiều bởi thời gian di chuyển. Khi đường sắt tốc độ cao, cao tốc hay các tuyến giao thông khối lượng lớn giúp rút ngắn đáng kể thời gian đi lại, phạm vi lựa chọn nơi sinh sống của người dân cũng được mở rộng.
Điều này có thể làm thay đổi cấu trúc phân bố dân cư. Một bộ phận dân cư không nhất thiết phải tiếp tục tập trung vào khu vực lõi nếu họ có thể tiếp cận nơi làm việc, trường học, dịch vụ và các trung tâm kinh tế trong một khoảng thời gian hợp lý. Khi đó, các khu vực nằm ngoài lõi đô thị nhưng có kết nối tốt sẽ có thêm điều kiện thu hút cư dân và hình thành những cộng đồng dân cư ổn định hơn.
Cùng với sự phân bố lại dân cư, thị trường lao động cũng thay đổi theo. Doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn nhân lực trên một phạm vi lớn hơn, trong khi người lao động có thêm lựa chọn việc làm mà không nhất thiết phải chuyển nơi ở vào trung tâm. Những thị trường lao động trước đây bị chia cắt bởi khoảng cách có thể dần liên thông hơn, tạo điều kiện để lao động dịch chuyển thuận lợi giữa các khu vực có chức năng kinh tế khác nhau.
Đây là cơ sở quan trọng để hình thành những trung tâm kinh tế mới ngoài khu vực lõi truyền thống. Khi một địa bàn vừa có quy mô dân cư đủ lớn, vừa được kết nối nhanh với trung tâm thành phố, sân bay, khu công nghiệp hay các đầu mối giao thông quan trọng, vị trí của địa bàn đó trong mạng lưới kinh tế sẽ thay đổi. Những hoạt động trước đây tập trung gần như hoàn toàn ở khu vực lõi có điều kiện phân bố sang các cực mới thuận lợi hơn về quỹ đất, khả năng tiếp cận và chi phí vận hành.
Có thể thấy xu hướng kết nối giữa phát triển đô thị và hạ tầng trong một số dự án đang được triển khai hiện nay. Ở phía Nam, Vinhomes Green Paradise tại Cần Giờ được đặt trong định hướng kết nối trực tiếp với khu vực trung tâm TP.HCM thông qua tuyến đường sắt tốc độ cao Bến Thành - Cần Giờ. Ở phía Bắc, tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh do VinSpeed triển khai cũng hướng tới rút ngắn rất đáng kể thời gian di chuyển giữa các trung tâm đô thị, kinh tế và du lịch trên hành lang này. Nếu những tuyến kết nối này được hoàn thành và khai thác hiệu quả, khoảng cách về thời gian giữa các khu vực sẽ được thu hẹp, qua đó mở rộng phạm vi của thị trường và khả năng tiếp cận các nguồn lực.


Với quy mô lớn, công nghệ hiện đại và cơ chế đặc thù đi kèm, tuyến đường sắt Bến Thành - Cần Giờ không chỉ giải bài toán kết nối giao thông mà còn mở ra một chương mới cho tiến trình phát triển bền vững của TP.HCM và toàn bộ vùng Đông Nam Bộ. (Ảnh minh họa)
Điểm đáng chú ý ở đây là hạ tầng và đô thị có thể tạo ra tác động hai chiều. Hạ tầng mở rộng phạm vi tiếp cận của đô thị, còn đô thị tạo ra quy mô dân cư, tiêu dùng và các hoạt động kinh tế đủ lớn để tăng nhu cầu sử dụng hạ tầng. Khi hai yếu tố này được phát triển đồng bộ, những khu vực ngoài lõi có thêm điều kiện nâng vai trò trong mạng lưới kinh tế của thành phố và của cả vùng.
Về dài hạn, quá trình này có thể góp phần hình thành một cấu trúc đô thị đa cực hơn. Dân cư, việc làm và dịch vụ được phân bố theo nhiều trung tâm, trong khi khả năng tiếp cận khu vực lõi vẫn được duy trì nhờ hệ thống giao thông nhanh. Khi đó, mở rộng đô thị không đơn thuần là kéo dài không gian cư trú, mà đi cùng sự mở rộng của thị trường lao động và sự hình thành những không gian kinh tế mới.
- Hạ tầng mở rộng khả năng kết nối, du lịch tạo thêm dòng khách và nhu cầu dịch vụ, còn các đại đô thị hình thành những thị trường dân cư, việc làm và tiêu dùng mới. Khi ba động lực này cùng phát triển và được kết nối trong một không gian rộng hơn, theo ông, chúng có thể tạo ra hiệu ứng lan tỏa như thế nào đối với các khu vực xung quanh?
PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng: Hạ tầng, du lịch và đại đô thị đều có thể tạo thêm năng lực phát triển ở từng không gian cụ thể, nhưng khi các động lực này được kết nối với nhau, tác động sẽ mở rộng ra phạm vi lớn hơn và bắt đầu hình thành hiệu ứng lan tỏa ở cấp độ vùng. "Hiệu ứng tích tụ" thể hiện rõ nhất khi sự phát triển ở một nơi tạo thêm thị trường và cơ hội kinh doanh cho những khu vực khác.
Hạ tầng giúp các dòng hàng hóa, con người và vốn lưu chuyển thuận lợi hơn; đô thị tạo ra thị trường tiêu dùng và nhu cầu dịch vụ lớn; du lịch bổ sung thêm dòng khách và sức mua. Khi những dòng vận động này gặp nhau, phạm vi của thị trường được mở rộng vượt ra ngoài ranh giới của một dự án hay một địa phương.
Từ đó, các hoạt động kinh tế có thể được tổ chức lại theo lợi thế của từng nơi. Những trung tâm lớn đảm nhiệm các chức năng như tài chính, thương mại, dịch vụ chuyên môn và đổi mới sáng tạo; các địa bàn có lợi thế về quỹ đất, công nghiệp hay logistics phát triển sản xuất, kho vận và phân phối; còn những vùng mạnh về nông nghiệp, thủy sản, du lịch hay kinh tế biển tham gia vào các mắt xích phù hợp trong chuỗi giá trị. Doanh nghiệp cũng có thể bố trí trụ sở, trung tâm điều hành, sản xuất, chế biến và logistics trên một không gian rộng hơn, thay vì tập trung mọi hoạt động tại một địa điểm. Khi các mắt xích được kết nối tốt, mỗi địa phương có điều kiện tập trung sâu hơn vào những chức năng mà mình có lợi thế.
Có thể thấy khá rõ cơ chế lan tỏa này từ TP.HCM. Khi các tuyến hạ tầng kết nối với Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long được hoàn thiện, thị trường, dịch vụ và năng lực tài chính của TP.HCM có thể lan rộng hơn tới các địa phương xung quanh. Ngược lại, nông sản, thủy sản, lao động, quỹ đất và các hoạt động sản xuất, logistics từ các địa phương cũng có điều kiện kết nối thuận lợi hơn với trung tâm. Khi đó, tăng trưởng được tổ chức trên một không gian kinh tế rộng hơn, với sự tham gia của nhiều địa phương trong cùng một chuỗi giá trị.
Đường dẫn lên cầu Cao Lãnh, điểm đầu tuyến Cao Lãnh - Lộ Tẻ nối Đồng Tháp với An Giang. (Ảnh: VGP/LS)
Tinh thần này cũng được thể hiện khá rõ trong Nghị quyết số 27-NQ/TW về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới khi xác định quan điểm tổ chức lại không gian phát triển quốc gia thống nhất trên cơ sở xác định rõ vai trò, vị trí, chức năng, lợi thế, bản sắc và sứ mệnh phát triển của từng vùng trong tổng thể phát triển đất nước theo hướng bền vững.
Đồng thời, Nghị quyết nhấn mạnh việc phát huy liên kết, bổ trợ và lan tỏa giữa các vùng, vùng động lực, cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, chuỗi đô thị và các trung tâm kinh tế. Theo tôi, cách tiếp cận này rất quan trọng bởi mỗi địa phương cần phát huy đúng lợi thế của mình và đặt lợi thế đó trong mối liên hệ với các khu vực khác. Khi các không gian phát triển được kết nối và bổ trợ cho nhau, động lực từ một cực tăng trưởng có thể lan rộng hơn, tạo thêm thị trường, cơ hội đầu tư và dư địa phát triển cho cả vùng.
Ở cấp độ cao hơn, liên kết vùng chính là quá trình tổ chức lại không gian kinh tế để các nguồn lực được phân bố và sử dụng hiệu quả hơn. Khi mỗi địa phương tham gia đúng vào những mắt xích phù hợp với lợi thế của mình, một cực tăng trưởng sẽ không chỉ tạo giá trị cho chính nó mà còn có khả năng kích hoạt thêm năng lực phát triển cho cả không gian xung quanh.
Tôi đánh giá cao cách Vingroup kết nối đầu tư hạ tầng, phát triển đô thị với du lịch và dịch vụ. Đây là một hướng đi thể hiện tầm nhìn dài hạn, bởi mỗi lĩnh vực vừa có giá trị riêng, vừa tạo điều kiện để những lĩnh vực khác phát triển. Khi tổ chức tốt sự kết nối ấy, doanh nghiệp có thể mở rộng thị trường, nâng hiệu quả đầu tư và góp phần hình thành những không gian phát triển mới cho địa phương.
Điểm đáng chú ý là doanh nghiệp chủ động tham gia tạo dựng những điều kiện cho sự phát triển. Một điểm đến muốn thu hút khách cần giao thông thuận tiện; một đô thị muốn có sức sống cần việc làm, dịch vụ và khả năng kết nối; một công trình giao thông muốn được khai thác hiệu quả cần các hoạt động kinh tế dọc tuyến. Đầu tư với cách nhìn tổng thể như vậy sẽ giúp các dự án bổ trợ nhau ngay từ quá trình hình thành.
Nhìn rộng hơn, sự tham gia của các doanh nghiệp tư nhân lớn còn góp phần huy động nguồn lực xã hội cho những nhu cầu phát triển dài hạn. Hạ tầng được cải thiện, các trung tâm đô thị và dịch vụ được kết nối sẽ giúp địa phương nâng khả năng thu hút đầu tư, tiếp cận thị trường và cạnh tranh bằng chất lượng. Lợi ích vì thế có thể lan ra ngoài phạm vi dự án, hỗ trợ cả những hoạt động kinh tế đã hiện diện trong khu vực.
Tôi kỳ vọng cách đầu tư có tính liên kết của Vingroup sẽ góp phần thúc đẩy quá trình ấy. Khi các dự án được triển khai đồng bộ và vận hành tốt, kết quả có thể được thể hiện rất cụ thể: Người dân đi lại thuận tiện hơn, có thêm lựa chọn về nơi ở và việc làm; doanh nghiệp có thị trường rộng hơn; địa phương có thêm năng lực phát triển. Đó là giá trị lâu dài của việc kết nối hạ tầng, đô thị và du lịch, cũng là cơ sở để nhìn nhận đóng góp của những doanh nghiệp có khả năng dẫn dắt các dự án lớn đối với tăng trưởng kinh tế.
Phối cảnh tổng thể dự án Vinhomes Hai Van Bay (Đà Nẵng).
- Có thể thấy doanh nghiệp lớn ngày càng tham gia sâu vào việc tổ chức hạ tầng, phát triển điểm đến, hình thành các đại đô thị và kết nối những không gian kinh tế rộng hơn thông qua việc đầu tư các dự án quy mô lớn có giá trị lan toả cao. Ông đánh giá như thế nào về vai trò và năng lực dẫn dắt của những doanh nghiệp lớn khi mỗi dự án không chỉ tạo ra giá trị cho chính doanh nghiệp, mà còn mở thêm thị trường, đặt ra những chuẩn mực mới và kéo một hệ sinh thái doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng tham gia và lớn lên trong chuỗi giá trị?
PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng: Một dự án quy mô lớn khi được triển khai sẽ phát sinh nhu cầu rất rộng về xây dựng, vật liệu, thiết bị, vận tải, công nghệ, lưu trú, thương mại, dịch vụ và nhiều hoạt động hỗ trợ. Nếu được tổ chức theo hướng mở, những nhu cầu đó có thể trở thành thị trường cho cả một mạng lưới doanh nghiệp phía sau.
Tác động này còn tiếp tục sau giai đoạn xây dựng. Khi dự án đi vào vận hành, các dòng cư dân, du khách, người lao động và hoạt động kinh tế phát sinh sẽ tạo thêm nhu cầu thường xuyên về cung ứng, bảo trì, logistics, thực phẩm, dịch vụ và nhiều loại hình kinh doanh khác. Doanh nghiệp địa phương, nhà cung ứng, hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ và vừa vì thế có thêm cơ hội tham gia vào một thị trường có tính dài hạn hơn.
Một vai trò quan trọng khác của doanh nghiệp dẫn dắt là thiết lập chuẩn. Những tập đoàn đủ quy mô thường có khả năng đưa ra các yêu cầu cao hơn về chất lượng, công nghệ, tiến độ, quản trị hay dịch vụ. Khi các đối tác muốn tham gia vào chuỗi này, họ phải đầu tư để nâng năng lực của chính mình. Qua đó, mặt bằng năng lực của cả mạng lưới doanh nghiệp cũng có thể được nâng lên.
Những doanh nghiệp như Vingroup, Sun Group cho thấy khá rõ một cách tiếp cận như vậy. Khi doanh nghiệp đầu tư vào những dự án có quy mô lớn, mức độ tích hợp cao và phạm vi tác động rộng, giá trị tạo ra sẽ lớn hơn nếu phía sau dự án còn hình thành thêm thị trường cho các nhà cung ứng, doanh nghiệp dịch vụ, đơn vị công nghệ và các chủ thể kinh doanh tại địa phương. Ở góc độ đó, vai trò dẫn dắt được thể hiện ở khả năng vừa tổ chức dự án, vừa tạo điều kiện để một hệ sinh thái cùng tham gia và cùng nâng chuẩn.
Có thể hình dung đây là một quá trình tích lũy. Dự án lớn mở ra nhu cầu mới; nhu cầu tạo thêm đơn hàng; đơn hàng giúp doanh nghiệp nhỏ có cơ sở đầu tư máy móc, nhân lực và công nghệ; khi năng lực được nâng lên, họ có thể đảm nhận những phần việc lớn hơn và tham gia sâu hơn vào các dự án tiếp theo.
Theo tôi, đó là ý nghĩa đầy đủ hơn của khái niệm “doanh nghiệp dẫn dắt”. Theo nghĩa đó, sức mạnh của doanh nghiệp chính là khả năng mở thị trường, nâng chuẩn và tạo thêm cơ hội phát triển cho những doanh nghiệp khác cùng tham gia.
- Như ông vừa nhấn mạnh, khi một dự án lớn mở ra thị trường mới, phía sau đó cũng là cơ hội cho nhiều doanh nghiệp cung cấp vật liệu, thiết bị, vận tải, thực phẩm và dịch vụ cùng tham gia. Khi mối liên kết này được thúc đẩy, có lẽ doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ có thêm cơ hội về đầu ra, mà còn là cơ hội nâng cao năng lực và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, thưa ông?
PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng: Khi nhìn một dự án trong mối liên hệ đa ngành, có thể thấy phía sau nó là cả một chuỗi cung ứng. Một dự án hạ tầng, đô thị hay du lịch cần rất nhiều đầu vào, từ vật liệu, thiết bị, vận tải, lắp đặt đến các dịch vụ kỹ thuật và hỗ trợ. Vấn đề quan trọng là tổ chức được mối liên kết giữa các tầng cung ứng để doanh nghiệp có thể nhìn thấy rõ phần việc phù hợp với năng lực của mình.
Khi các tập đoàn và nhà thầu lớn chủ động công bố nhu cầu mua sắm, yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng và tiến độ triển khai, doanh nghiệp nhỏ và vừa có cơ sở để quyết định đầu tư máy móc, tuyển dụng, đào tạo nhân lực hay chuẩn bị nguồn vốn. Điều đó cũng giúp họ chuyển từ thế bị động chờ đơn hàng sang chủ động chuẩn bị để tham gia chuỗi.
Về phía doanh nghiệp nhỏ và vừa, yêu cầu đặt ra là nâng năng lực một cách thực chất. Muốn trở thành nhà cung ứng lâu dài, doanh nghiệp phải đáp ứng đồng thời chất lượng, tiến độ, hồ sơ, khả năng giao hàng và trách nhiệm sau cung cấp. Mỗi doanh nghiệp cũng cần xác định đúng thế mạnh của mình, bắt đầu từ những phần việc phù hợp rồi từng bước nâng tiêu chuẩn để có thể đảm nhận những khâu có giá trị cao hơn.
Một mắt xích khác là đào tạo nhân lực. Những dự án lớn không chỉ cần vật tư, thiết bị mà còn cần lực lượng kỹ thuật, vận hành, bảo dưỡng, phục vụ và quản lý. Nếu doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và địa phương phối hợp được với nhau, chương trình đào tạo có thể bám sát nhu cầu công việc thực tế, vừa giúp dự án có nguồn nhân lực phù hợp, vừa giúp người lao động nâng kỹ năng và tiếp cận những việc làm ổn định hơn.
Cơ hội còn kéo dài sang giai đoạn vận hành. Khi công trình đi vào hoạt động, nhu cầu về bảo trì, sửa chữa, cảnh quan, vệ sinh, an ninh, thực phẩm, giặt là, vận tải và nhiều dịch vụ hỗ trợ vẫn phát sinh thường xuyên. Đây là phần thị trường có tính ổn định hơn và có thể trở thành nguồn việc dài hạn cho doanh nghiệp địa phương. Nếu đáp ứng tốt từ những hợp đồng đầu tiên, doanh nghiệp nhỏ có thể từng bước xây dựng uy tín, mở rộng phạm vi cung ứng và trở thành đối tác thường xuyên trong hệ sinh thái.
Bên cạnh doanh nghiệp nhỏ và vừa, phạm vi tham gia cũng có thể mở rộng tới nhiều chủ thể khác trong nền kinh tế địa phương. Nghệ sĩ, đầu bếp, người làm nghề thủ công, đơn vị tổ chức sự kiện, doanh nghiệp công nghệ, cơ sở thực phẩm hay các nhà cung cấp dịch vụ đều có thể tìm được vị trí phù hợp trong hệ sinh thái nếu đáp ứng được yêu cầu về chất lượng và tính chuyên nghiệp. Với những dự án du lịch và đô thị có quy mô lớn, chính những chủ thể này góp phần làm phong phú sản phẩm, nâng chất lượng trải nghiệm và tạo nên bản sắc riêng cho điểm đến.
Có thể khẳng định, khi doanh nghiệp đầu tàu tạo được thị trường đủ lớn và duy trì được dòng khách, cư dân hay người sử dụng ổn định, các doanh nghiệp phía sau sẽ có thêm điều kiện để chuyên môn hóa, hoàn thiện năng lực và xây dựng thương hiệu của mình. Khi đó, giá trị của dự án không dừng ở doanh thu trực tiếp mà còn được lan tỏa qua việc hình thành thêm việc làm, sinh kế, dịch vụ và những năng lực kinh doanh mới tại địa phương.
Đây mới là điểm quan trọng của liên kết chuỗi. Một dự án lớn tạo thêm doanh thu cho nhà cung ứng là một kết quả, nhưng giá trị sâu hơn nằm ở việc doanh nghiệp nhỏ tích lũy được kinh nghiệm, nâng chuẩn sản phẩm, cải thiện quản trị và có thêm năng lực để tiếp cận những khách hàng mới. Khi quá trình đó diễn ra liên tục, sức lan tỏa của dự án sẽ được chuyển hóa thành sự trưởng thành của cả một mạng lưới doanh nghiệp phía sau.
- Ở một tầm nhìn dài hạn hơn, từ những điều chỉnh đang mở thêm không gian cho khu vực tư nhân tham gia đầu tư, tổ chức nguồn lực và triển khai các dự án quy mô lớn, ông kỳ vọng thế nào về những chuyển biến nào ở năng lực của doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới, và lực lượng này sẽ đóng vai trò ra sao trong việc tạo thêm những động lực tăng trưởng mới, hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045?
PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng: Điều tôi kỳ vọng nhất không chỉ là doanh nghiệp Việt Nam sẽ có thêm nhiều dự án lớn để tham gia, mà qua chính những dự án đó, một thế hệ năng lực mới của doanh nghiệp sẽ được hình thành.
Một dự án càng lớn, càng phức tạp thì yêu cầu đặt ra đối với doanh nghiệp càng cao. Đó là năng lực huy động và quản trị vốn, làm chủ công nghệ, tổ chức tiến độ, phối hợp nhiều lĩnh vực, kiểm soát rủi ro và chịu trách nhiệm trong một chu kỳ đầu tư dài. Doanh nghiệp bước vào những dự án như vậy cũng đồng nghĩa với việc tự đặt mình vào một môi trường buộc phải trưởng thành.
Đây là quá trình tích lũy rất quan trọng. Một doanh nghiệp sau khi đã có kinh nghiệm triển khai những dự án quy mô lớn sẽ có nền tảng tốt hơn để đảm nhận những nhiệm vụ khó hơn, mở rộng sang lĩnh vực mới và từng bước làm chủ những khâu trước đây phải phụ thuộc nhiều vào đối tác bên ngoài. Qua mỗi dự án, năng lực tổ chức, khả năng kiểm soát rủi ro và uy tín trên thị trường cũng được bồi đắp thêm.
Khi doanh nghiệp đủ lớn về năng lực, vị thế của khu vực tư nhân trong nền kinh tế cũng sẽ thay đổi. Từ chỗ chủ yếu tham gia vào từng hoạt động kinh doanh riêng lẻ, doanh nghiệp có thể tiến tới tổ chức những dự án hạ tầng lớn, phát triển các đô thị mới, kiến tạo điểm đến du lịch, kết nối các chuỗi sản xuất - dịch vụ và tham gia định hình những không gian kinh tế mới. Khi đó, doanh nghiệp không chỉ đi theo thị trường, mà còn có khả năng tạo ra thị trường.
Điều này rất có ý nghĩa đối với mục tiêu dài hạn của đất nước. Một quốc gia muốn trở thành nước phát triển, thu nhập cao thì không thể thiếu một lực lượng doanh nghiệp đủ sức đầu tư dài hạn, làm chủ công nghệ, tổ chức những dự án lớn và cạnh tranh trên những thị trường rộng hơn. Năng lực quốc gia cũng được phản ánh qua tầm vóc và sức cạnh tranh của chính các doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Vì vậy, từ những điều chỉnh đang mở thêm không gian cho khu vực tư nhân, tôi kỳ vọng sẽ hình thành ngày càng nhiều doanh nghiệp Việt Nam có quy mô, bản lĩnh và năng lực tổ chức đủ lớn để đảm nhận những vai trò trước đây còn hạn chế. Khi lực lượng này trưởng thành, nền kinh tế sẽ có thêm những chủ thể đủ sức tạo ra các động lực phát triển mới và cùng tham gia hiện thực hóa những mục tiêu dài hạn của đất nước.
- Xin trân trọng cảm ơn ông về cuộc trao đổi!


