Aa

Xây dựng trung tâm tài chính quốc tế: Cần dựa trên chất lượng thay vì quy mô

Chủ Nhật, 26/07/2026 - 06:36

Việc thành lập Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam mở ra cơ hội đưa đất nước tham gia sâu hơn vào mạng lưới tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, sức cạnh tranh của một trung tâm tài chính không thể chỉ đo bằng quy mô tài sản hay dòng vốn, mà nằm ở khả năng tạo giá trị cho nền kinh tế thực, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Trung tâm tài chính phải tạo giá trị thực cho nền kinh tế 

Nhiều năm qua, Việt Nam là quốc gia thu hút lượng lớn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và tham gia sâu vào chuỗi sản xuất toàn cầu. Tuy nhiên, phần lớn hoạt động huy động vốn quốc tế, cấu trúc tài chính và quản trị dòng tiền của doanh nghiệp trong nước vẫn phải thực hiện thông qua các trung tâm tài chính khu vực như Singapore hay Hồng Kông (Trung Quốc). Thực tế này cho thấy, dù đã trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi sản xuất toàn cầu, Việt Nam vẫn chưa tham gia sâu vào phân khúc dịch vụ tài chính - lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng cao nhất trong chuỗi vận hành của dòng vốn quốc tế.

Khoảng trống đó cũng phản ánh yêu cầu cấp thiết phải tìm kiếm một động lực tăng trưởng mới, khi mô hình phát triển dựa trên các lợi thế truyền thống đang dần bộc lộ giới hạn. Không chỉ cạnh tranh bằng chi phí hay ưu đãi đầu tư, Việt Nam cần từng bước nâng vị thế từ "điểm đến sản xuất" trở thành "điểm đến của dòng vốn", nơi các hoạt động tài chính, đổi mới sáng tạo và dịch vụ giá trị cao được hình thành và phát triển.

Xây dựng trung tâm tài chính quốc tế: Cần dựa trên chất lượng thay vì quy mô   - Ảnh 1.

Thành công của một trung tâm tài chính quốc tế không chỉ được đo bằng quy mô tài sản haydòng vốn, mà còn ở khả năng tạo giá trị cho nền kinh tế thực, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy đổimới sáng tạo. (Ảnh minh hoạ: Pexels)

Do đó, sự ra đời của Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.HCM (VIFC-HCMC), cùng những đột phá về cơ chế, chính sách từ Nghị quyết số 222/2025/QH15 của Quốc hội được kỳ vọng sẽ mở ra một không gian phát triển mới, đặt nền móng để Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào mạng lưới tài chính toàn cầu và xây dựng lợi thế cạnh tranh trong các lĩnh vực như tài chính xanh, tài chính bền vững và công nghệ tài chính (fintech).

Song, theo các chuyên gia, thành công của một trung tâm tài chính quốc tế không thể được đo bằng quy mô giao dịch hay tốc độ tăng trưởng của thị trường, mà phải được nhìn nhận trên những tiêu chí toàn diện hơn về chất lượng phát triển và giá trị mang lại cho nền kinh tế.

TS. Nguyễn Thị Mỹ Linh, CFA, Chủ nhiệm cấp cao Bộ môn Tài chính, Đại học RMIT Việt Nam nhìn nhận, các chỉ số truyền thống như quy mô thị trường, vốn hóa hay thanh khoản là cần thiết nhưng chưa đủ để phản ánh đầy đủ chất lượng và năng lực cạnh tranh của một trung tâm tài chính quốc tế.

"Bên cạnh những yếu tố có thể đo lường như quy mô, vốn hóa thị trường, còn có nhiều khía cạnh khó định lượng như chất lượng nguồn nhân lực, năng lực đổi mới sáng tạo hay sự phù hợp với bối cảnh kinh tế, xã hội và văn hóa của mỗi quốc gia. Vì vậy, nếu chỉ nhìn vào các chỉ số như quy mô tài sản, dòng vốn lưu chuyển, tính thanh khoản hay số lượng các định chế tài chính thì vẫn chưa thể phản ánh toàn diện mức độ thành công của một trung tâm tài chính quốc tế", TS. Nguyễn Thị Mỹ Linh nhấn mạnh.

Xây dựng trung tâm tài chính quốc tế: Cần dựa trên chất lượng thay vì quy mô   - Ảnh 2.

TS. Nguyễn Thị Mỹ Linh, CFA, Chủ nhiệm cấp cao bộ môn Tài chính, Đại học RMIT Việt Nam (Ảnh: RMIT)

TS. Nguyễn Thị Mỹ Linh cho rằng, để đánh giá năng lực cạnh tranh của một trung tâm tài chính quốc tế, Việt Nam có thể tham khảo Chỉ số Trung tâm Tài chính Toàn cầu (Global Financial Centres Index - GFCI) - bộ chỉ số được sử dụng rộng rãi trên thế giới với 5 nhóm tiêu chí cốt lõi gồm môi trường kinh doanh, nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng, thị trường tài chính và uy tín.

Tuy nhiên, theo bà, GFCI chỉ nên được xem là một khung tham chiếu, không phải "khuôn mẫu" để áp dụng nguyên trạng. Việc xây dựng trung tâm tài chính quốc tế cần xuất phát từ điều kiện thực tiễn, trình độ phát triển và lợi thế riêng của Việt Nam.

"Có thể sử dụng các nhóm tiêu chí của GFCI làm thước đo năng lực cạnh tranh của trung tâm tài chính quốc tế. Tuy nhiên, các tiêu chí này cần được điều chỉnh phù hợp với từng giai đoạn phát triển và nguồn lực của Việt Nam. Trong đó, có thể ưu tiên xây dựng lợi thế ở những lĩnh vực giàu tiềm năng như tài chính xanh, tài chính bền vững và fintech. Nhưng về lâu dài, yếu tố quan trọng nhất vẫn là phát triển nguồn nhân lực. Khi con người được đầu tư đúng mức, đó sẽ là nền móng vững chắc để hình thành một trung tâm tài chính quốc tế phát triển bền vững", TS. Nguyễn Thị Mỹ Linh phân tích.

Ở góc độ rộng hơn, chuyên gia RMIT cho rằng thành công của một trung tâm tài chính quốc tế không nên được đo đếm đơn thuần bằng quy mô giao dịch hay lượng vốn luân chuyển, mà quan trọng hơn là khả năng tạo ra giá trị thực cho nền kinh tế.

"Mục tiêu cốt lõi của một trung tâm tài chính quốc tế là thúc đẩy thương mại và đầu tư xuyên biên giới, qua đó tạo ra giá trị cho doanh nghiệp và xã hội. Một trung tâm tài chính có thể ghi nhận khối lượng giao dịch rất lớn nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc tạo ra nhiều giá trị cho nền kinh tế sở tại. Nếu dòng vốn chủ yếu phục vụ các hoạt động đầu cơ thay vì đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, nguy cơ hình thành bong bóng tài sản sẽ gia tăng và những giá trị bền vững cho doanh nghiệp cũng như nền kinh tế sẽ bị hạn chế", TS. Nguyễn Thị Mỹ Linh nhận định.

Tài chính thông minh và bền vững sẽ định hình trung tâm tài chính tương lai

Dưới góc nhìn của TS. Nguyễn Thị Mỹ Linh, trong giai đoạn đầu xây dựng trung tâm tài chính quốc tế, Việt Nam cần lựa chọn đúng những lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh, đồng thời bám sát xu hướng dịch chuyển của dòng vốn toàn cầu để tạo dấu ấn khác biệt.

Theo bà, các lĩnh vực được xác định là ngành mũi nhọn tại Nghị định số 323/2025/NĐ-CP như tài chính xanh, tài chính bền vững và công nghệ tài chính (fintech) đều là những "điểm rơi" chiến lược mà Việt Nam nên ưu tiên phát triển.

"Đây là các lĩnh vực có tiềm năng lớn trong thu hút dòng vốn quốc tế và tạo bản sắc riêng cho trung tâm tài chính của Việt Nam. Đồng thời, đây cũng là xu hướng toàn cầu gắn với các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDGs) của Liên Hợp Quốc, đang nhận được sự quan tâm mạnh mẽ từ nhà đầu tư, doanh nghiệp và các chính phủ trên thế giới", TS. Nguyễn Thị Mỹ Linh nhận định.

Theo bà, Việt Nam đang sở hữu nhiều điều kiện thuận lợi để tham gia cuộc đua này. Không chỉ nằm trong nhóm quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao nhất thế giới, Việt Nam còn ghi nhận tốc độ tăng trưởng tín dụng xanh tích cực, trong khi kinh tế số liên tục dẫn đầu Đông Nam Á về tốc độ tăng trưởng trong ba năm gần đây. Đây là những lợi thế quan trọng để hình thành các sản phẩm và dịch vụ tài chính mang tính khác biệt.

Thay vì cạnh tranh trên diện rộng với những trung tâm tài chính đã phát triển, Việt Nam có thể lựa chọn chiến lược tập trung vào các phân khúc ngách có giá trị gia tăng cao. "Việt Nam hoàn toàn có thể tạo dấu ấn bằng cách phát triển một số lĩnh vực chuyên biệt như tài chính xanh cho năng lượng tái tạo hoặc tài chính đa dạng sinh học (biofinance)", bà gợi mở.

Tuy nhiên, để biến những lợi thế thành năng lực cạnh tranh thực chất, theo TS. Nguyễn Thị Mỹ Linh, điều kiện tiên quyết là phải xây dựng đồng bộ khung thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực.

"Nếu muốn phát triển tài chính xanh hay tài chính bền vững, Việt Nam cần sớm hoàn thiện các quy định, hướng dẫn kỹ thuật, đồng thời đào tạo doanh nghiệp về lập và công bố báo cáo môi trường, báo cáo ESG, báo cáo phát thải hay đa dạng sinh học cũng như hoạt động kiểm toán các báo cáo này", chuyên gia phân tích.

Dẫn kết quả nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Accounting & Finance, TS. Nguyễn Thị Mỹ Linh cho biết kiểm toán báo cáo khí thải không chỉ góp phần nâng cao tính minh bạch mà còn tạo ra lợi ích tài chính rõ rệt cho doanh nghiệp. "Theo nghiên cứu mới đây của tôi và các cộng sự, kiểm toán báo cáo khí thải giúp cải thiện xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp, qua đó nâng cao năng lực tiếp cận và huy động vốn", bà cho biết.

Bên cạnh hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bà cũng nhấn mạnh yêu cầu phải xây dựng hệ thống quản trị rủi ro theo chuẩn quốc tế, đặc biệt đối với các rủi ro mới phát sinh trong nền kinh tế số như tẩy xanh (greenwashing), an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Nhìn về dài hạn, tiêu chí đánh giá sức cạnh tranh của các trung tâm tài chính toàn cầu sẽ có sự thay đổi mạnh mẽ trong vòng 5-10 năm tới.

"Thành công của một trung tâm tài chính sẽ chuyển dịch từ mô hình truyền thống sang mô hình tài chính thông minh, tài chính bền vững, phù hợp với các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc", TS. Nguyễn Thị Mỹ Linh dự báo.

Theo đó, những yếu tố như đô thị thông minh, trái phiếu xanh, fintech, tài chính đa dạng sinh học, trí tuệ nhân tạo (AI) và quản trị AI trong lĩnh vực tài chính sẽ ngày càng trở thành những thước đo quan trọng phản ánh năng lực cạnh tranh của một trung tâm tài chính quốc tế.

Nếu kiên định theo định hướng này, Việt Nam không chỉ có cơ hội hình thành một trung tâm tài chính có sức cạnh tranh trên trường quốc tế mà còn xây dựng được nền tảng dài hạn cho tăng trưởng bền vững, qua đó nâng cao chất lượng phát triển và năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế./.

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng - Chủ tịch Hội đồng điều hành Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam vừa ký Quyết định số 04/QĐ-HĐĐHTTTC ngày 22/7/2026 phê duyệt Kế hoạch phát triển Trung tâm này đến năm 2035 (Kế hoạch).

Mục tiêu của Kế hoạch nhằm xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế trở thành động lực quan trọng trong huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính trong nước và quốc tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững, nâng cao chất lượng, hiệu quả nền kinh tế; đồng thời từng bước nâng cao vị thế và vai trò của Việt Nam trong mạng lưới tài chính khu vực và toàn cầu.

Mục tiêu giai đoạn 2026 – 2030: Hoàn thiện đồng bộ khung thể chế pháp lý đặc thù, mô hình, cơ chế quản trị, điều hành và giám sát Trung tâm tài chính quốc tế theo hướng tiệm cận chuẩn mực quốc tế, bảo đảm minh bạch, an toàn và hiệu quả; triển khai thí điểm và vận hành giai đoạn đầu các sản phẩm, dịch vụ tài chính ưu tiên; hình thành và đưa vào vận hành hạ tầng tài chính, hạ tầng số, hạ tầng xã hội và hạ tầng pháp lý cốt lõi phục vụ hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế; thu hút các tổ chức, định chế tài chính, quỹ đầu tư, ngân hàng quốc tế lớn, các chủ thể thị trường chuyên nghiệp và nguồn nhân lực tài chính chất lượng cao; tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững và hội nhập của Trung tâm tài chính quốc tế trong các giai đoạn tiếp theo.

Phấn đấu trong giai đoạn 2031 – 2035, Việt Nam mở rộng và hoàn thiện hệ sinh thái tài chính hiện đại, bao gồm thị trường vốn, tài chính xanh, tài chính số, tài chính ứng dụng công nghệ (fintech), nâng cao mức độ đa dạng, chiều sâu và khả năng liên thông của Trung tâm tài chính quốc tế.


Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Thương hiệu dẫn đầu

Lên đầu trang
Top