Ăn bữa cơm làng

Ăn bữa cơm làng

Cơm làng cũng từ những nguồn thức ăn chả hề xa lạ, nhưng có không gian riêng, có cách chế biến và phối hợp riêng, mà thành đặc sắc, chả ở đâu thích thú được như vậy.

06:30, 22/02/2020

Bây giờ, thời mới rồi, đường xá thông thương, từ Hà Nội về làng tôi, có đến mấy lối về, chạy xe ô tô mất non hai tiếng đồng hồ. Gần đây, đường cao tốc Hà Thái thông, còn rút ngắn hơn nữa, chỉ độ tiếng rưỡi sau lúc tan làm là đã đỗ xịch xe ở sân nhà, giữa làng rồi. Làng chả còn xa ngái như ngày trẻ con hay thời thanh niên. Làng dù đã mất bớt đi những lũy tre xanh um, cái chỉ dấu làng xưa ấy giờ chỉ còn mờ mờ trong tâm tưởng mà thôi. Nhưng làng vẫn là làng, vẫn còn nhiều chỉ dấu khác, vẫn là nơi ta nhớ về, gắn bó trong tâm tưởng, là nguồn cảm xúc mới mẻ, khi ta thấy vơi cạn thì lại lần về mà tiếp lấy, để tiếp tục đi ra hòa nhập tiếp với thế giới lớn rộng.

Một trong những thích thú của tôi khi về làng là được ngồi cùng mọi người ăn bữa cơm làng. Cơm làng cũng từ những nguồn thức ăn chả hề xa lạ, nhưng có không gian riêng, có cách chế biến và phối hợp riêng, mà thành đặc sắc, chả ở đâu thích thú được như vậy.

Một đặc điểm nữa, là trai làng Phú La tôi, hầu như ai cũng biết và thích nấu ăn, lại nấu rất ngon. Bữa cơm ngày thường là do đàn bà nấu, nhưng mỗi khi được tụ hội lúc nông nhàn, chuẩn bị cỗ bàn đánh chén hay có dịp làm cơm đãi khách, thì đàn ông thành người soạn sửa và nấu chính, các bà các chị lui xuống hàng sau, chỉ là người phụ giúp. Món ăn ở bữa cỗ cơm làng cũng chẳng mấy cầu kỳ. Có món thì làng nào ở quê tôi cũng có, lại có món chỉ riêng là của làng tôi, đi khắp nơi chưa bao giờ thấy, dù nhang nhác giống...

Làng nhỏ bên sông

Đã biết bao nhiêu chuyến đi đi về về làng, có nhiều bận kéo theo khách, người sang danh nổi như cồn cũng có, còn đa số chỉ là bạn hữu thân quý của mình. Có bận, cha tôi ngồi cùng tôi tiếp rượu đám bạn văn, bạn báo ngay trước sân nhà. Cha tôi trách khéo: “Anh Phong là nhà văn nhà báo, trước nay tôi chỉ thấy anh viết những đâu đâu, sao chẳng thấy viết về làng mình?”. 

Tôi ngồi ngẩn, nhận ra, làng quê gắn bó với mình thân thương như thế mà thành thường tình, không nghĩ có chuyện gì mà viết. Nhưng ngẫm kỹ thì thấy không phải dễ đâu mà có một làng quê chôn rau cắt rốn, mảnh đất nơi mình đang ngồi đã có lịch sử khai khẩn hàng ngàn năm. Mồ hôi, công lao của bao nhiêu thế hệ đã rỏ xuống để làm nên thành quả cho mình hưởng hôm nay. Mâm cơm trước mặt mình đây là từ những sản vật từ ngày lập làng đã có, đầy sẵn ra đấy, chỉ qua tay mấy anh trai làng chế biến, là thành miếng ngon thôi.

Không ở đâu yên ả và bình lặng hơn giữa chốn đồng quê. Nguồn ảnh: Internet

Làng Phú La tôi đã có lịch sử lập nên cách đây chừng mười thế kỷ, nằm trên lưu vực bồi tụ phù sa của ba dòng sông, sông Hồng, sông Luộc, và sông Trà Lý. Khởi đầu, đây là một vùng đầm lầy, đất trũng ngập nước quanh năm.

Có một chàng trai họ Nguyễn, người làng Đô Kỳ, lấy vợ, mới sinh con, dựng ngôi nhà nhỏ trên vuông vườn cha mẹ chia cho, thấy đất ở chật hẹp, bức bối, không thoả chí mình, nên ngày ngày đi ngang dọc trong vùng tìm nơi khai khẩn. Ba chàng trai khác, họ Đinh, họ Vũ, họ Trần, là người ở các làng khác cùng trong vùng ấy, cũng giống hoàn cảnh và đồng chí nguyện. Một chiều, bốn chàng trai cùng gặp nhau khi cùng đứng trước một đầm lầy hoang hoá, nhìn thấy hàng đàn cò vạc đáp xuống bay lên thơ thới, nhìn xuống mặt nước thấy sẵn cá tôm, thế là bốn cặp tay đập chồng vào nhau, quyết đưa vợ con xuống đấy, cùng đồng tâm khai khẩn vùng đất mới.

Bốn gia đình chọn bốn gò cao ở bốn hướng dựng nhà, rồi bắt đầu chăn thả vịt ngan, vật đất bùn lên thành ruộng cấy lúa chiêm, mùa, thành vườn ươm cau, trồng chè, giâm chuối, mặt nước còn lại thì nuôi thả cá tôm. Thế rồi thêm ríu rít chim về, thêm ấp iu người tìm đến, dần dần thành một quần cư, thành xóm, thành thôn, thành làng… 

Ban đầu làng chưa có tên, sau có người hay chữ đi qua, đứng lại ngắm làng, thốt lên: “Đúng là Phú La!”. Phú là giàu có, sung túc. La là vùng trũng, vùng thấp. Thế là thành tên làng Phú La. Tôi nhớ, hồi còn nhỏ tí, làng còn xây cổng, hai bên có đôi câu đối bằng chữ Nho, do mấy ông giáo làng soạn: “Đa văn vi Phú La thiên hạ/Tri ngộ như An Lạc tính tình”.

Nói chuyện lịch sử làng, rồi lại quay về những món ăn trên mâm. Món chạch ruộng béo bùi om với củ chuối non, thái sợi trắng ngần thơm mùi mẻ; Món cá rô, cá giếc láu tháu kho nồi đất nung có thêm mấy lát riềng non, vài quả chay chua đậm đà, thơm nục, ăn vào tan cả vây xương. Ngay cả con gà choai choai luộc lên chỉ bày đầy một đĩa, lòng với tiết xào thân cây chuối non. Hay món rau diếp bánh tẻ thái nhỏ biến rửa mấy lần qua nước mua, thêm các loại rau thơm, mùi tàu nhặt quanh vườn, ăn với cà chua chưng tóp mỡ, cứ gọi là và đẫy miếng cơm… Tất cả những món ấy, tôi đồ rằng đều đã có ngay từ thời mới lập làng.

Bữa cơm truyền thống của người Việt

Còn một món, chỉ ở làng tôi có. Tôi đã đi ăn mòn bát thiên hạ, chưa thấy ở đâu có cả. Làng tôi gọi đó là món gỏi sụn, cũng có người gọi là món nộm lòng. Tôi đặt tên mới cho nó, gọi là món “Gỏi lòng Phú La”. Tất cả các bộ phận của bộ lòng con lợn, thêm sụn, thêm tai, luộc chín lên rồi thái nhỏ biến, trộn bóp với các loại rau thơm, mắm tôm, chanh ớt, thêm chút lá tỏi tươi thái nhỏ, là thành. Gỏi lòng Phú La bày đĩa, dùng miếng bánh đa vừng nướng xúc lấy mà ăn, thêm hớp rượu quê nút lá chuối, là ngon không bút nào tả xiết. Có mấy nhà văn tiếng tăm đã đến làng tôi, được ăn món này, đều thốt lên đầy thán phục: “Tuyệt! Tuyệt! Cũng chỉ là từ bộ lòng con lợn thôi, chế biến, gia giảm làm sao mà nên thần kỳ, đầy hương vị đến như vậy chứ!”.

Tôi mới thư thả kể rằng, món gỏi lòng Phú La này có từ thời tướng quân Nguyễn Phục được triều Lê cử mang mười vạn quân đến vùng Thái Bình luyện tập binh mã, kêu gọi dân chúng tích góp quân lương để đánh quân xâm lược phương Bắc đang theo đường biển kéo vào. Nhân dân cả vùng, trong đó có làng Phú La, đã góp gần hết trai đinh, lương thảo cho tướng quân Nguyễn Phục đánh giặc ngoại xâm. 

Đuổi giặc xong rồi, làng đón trai tráng trở về trong cảnh nghèo xác nghèo xơ. Cả làng mổ một con lợn nhỏ để ăn cùng chung vui chiến thắng. Con lợn nhỏ tí, “bầu dục đâu đến bàn thứ chín”, nên người ta đã nghĩ ra cách thái nhỏ biến tất cả rồi trộn đều nắm lại chia cho mỗi nhà một nắm, gọi là ăn cỗ làng chung, để ai cũng cảm thấy mình được ăn đều chia sòng trong ngày vui chiến thắng. Không ngờ thế mà thành món ngon đặc biệt. Từ sau đó cứ thế mà làm theo, thành ra miếng ngon riêng của làng tôi, mỗi khi mổ lợn làm cỗ là không thể thiếu.

Ăn bữa cơm làng, mà ngẫm ra, mà thấm thía những câu chuyện dọc dài lịch sử thăng trầm của làng, của cả nước như thế, thì sao mà không thấy như được tiếp thêm những xúc cảm!

Giáp Xuân, 2013 - 2020

Ý kiến của bạn

Bạn còn 500/500 ký tự


TOP