Cải cách thể chế phải trở thành động lực tăng trưởng thực chất
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên giai đoạn 2026 - 2030, Kết luận số 18-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đặt ra yêu cầu cắt giảm 50% thời gian giải quyết thủ tục hành chính, 50% chi phí tuân thủ so với năm 2024 và tối thiểu 30% ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm thế nào để những kết quả cải cách thực sự chuyển hóa thành lợi ích về thời gian, chi phí và cơ hội kinh doanh, qua đó khơi thông nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng.
Tại Tọa đàm “Đẩy mạnh cắt giảm thủ tục hành chính, gỡ rào cản cho doanh nghiệp phát triển” do Tạp chí Đời sống và Pháp luật tổ chức ngày 16/10, TS. Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Nghiên cứu môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược (Bộ Tài chính) cho rằng, yêu cầu quan trọng hiện nay là phải thay đổi tư duy cải cách, coi cải cách là cách để tạo niềm tin, củng cố động lực, khuyến khích sáng tạo và nâng cao tính tuân thủ của doanh nghiệp.

TS. Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Nghiên cứu môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược (Bộ Tài chính). (Ảnh: BTC)
Theo đó, cải cách không có nghĩa là buông lỏng quản lý hay tháo bỏ các quy định để doanh nghiệp hoạt động mà không có khuôn khổ. Ngược lại, cải cách phải tạo điều kiện để doanh nghiệp thực hiện tốt hơn các nghĩa vụ pháp lý, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
“Chúng ta cải cách để củng cố động lực, khuyến khích doanh nghiệp phát triển, đồng thời nâng cao tính tuân thủ của doanh nghiệp. Cho nên, cần nhìn nhận cải cách từ hai phía. Một mặt, chúng ta phải giúp doanh nghiệp tuân thủ pháp luật tốt hơn. Mặt khác, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và quá trình tổ chức thực thi cũng phải thuận lợi, đơn giản hơn”, TS. Nguyễn Minh Thảo phân tích.
Từ góc độ này, bà nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện pháp luật theo hướng minh bạch, dễ hiểu và đặc biệt phải bảo đảm cách hiểu thống nhất. Bởi trên thực tế, vẫn có những quy định pháp luật có thể được hiểu và áp dụng theo nhiều cách khác nhau, làm gia tăng rủi ro và chi phí tuân thủ của doanh nghiệp.
Một vấn đề khác là tính ổn định và khả năng dự báo của chính sách. Từ thực tiễn làm việc với các nhà đầu tư, bà Thảo chia sẻ: “Khi làm việc với các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài, họ chia sẻ với tôi rằng một trong những yếu tố rất quan trọng quyết định việc đầu tư chính là sự ổn định của chính sách. Việc các văn bản pháp luật thay đổi liên tục, thiếu tính ổn định sẽ làm giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư”.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội, cũng cho rằng việc xây dựng một nền hành chính và khuôn khổ pháp lý ngày càng minh bạch là rất cần thiết. Tuy nhiên, điều cộng đồng doanh nghiệp quan tâm là những cải cách đó có thực sự giúp doanh nghiệp phát triển và tăng trưởng ổn định hay không.

Ông Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội. (Ảnh: BTC)
Theo ông Quốc Anh, chi phí thực hiện thủ tục hành chính là một yếu tố quan trọng, nhưng điều doanh nghiệp quan tâm hơn cả là thời gian phải dành cho việc thực hiện các thủ tục.
Dẫn thông tin từ các doanh nghiệp thành viên, ông cho biết trước năm 2020, có những doanh nghiệp phải dành tới 25 - 28% quỹ thời gian làm việc mỗi ngày cho thủ tục hành chính. Đến nay, việc triển khai hóa đơn điện tử, thực hiện các thủ tục thuế, kho bạc và hải quan trực tuyến đã góp phần giảm đáng kể thời gian, công sức cho doanh nghiệp.
Dù ghi nhận những chuyển biến tích cực đó, ông Quốc Anh cho rằng doanh nghiệp vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính.
“Điều mà doanh nghiệp quan tâm nhất chính là thời gian phải dành cho việc thực hiện các thủ tục hành chính. Yếu tố thứ hai là việc phải huy động nguồn lực nhân sự để thực hiện các thủ tục này. Yếu tố thứ ba là các thủ tục hành chính có thể khiến doanh nghiệp bỏ lỡ những cơ hội trong hoạt động sản xuất, kinh doanh”, ông Quốc Anh nêu vấn đề.
Đáng chú ý, theo đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội, một trong những băn khoăn hiện nay là doanh nghiệp không biết chính xác khi nào các thủ tục hành chính sẽ được hoàn tất.
“Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp phải đưa ra rất nhiều quyết định, từ tuyển dụng lao động, vay vốn đến tiếp nhận đơn hàng mới. Những quyết định đó đều gắn với thời gian và tiến độ thực hiện. Vậy thì các thủ tục hành chính có được giải quyết kịp thời để doanh nghiệp chủ động đưa ra những quyết định kinh doanh hay không? Đây là điều mà doanh nghiệp rất quan tâm”, ông Quốc Anh chia sẻ.
Ở góc độ pháp lý, ông Nguyễn Khánh Ngọc, Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam nhấn mạnh, xóa bỏ những rào cản thể chế và thủ tục hành chính không cần thiết là cách thiết thực để tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, qua đó “đưa thể chế thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh của quốc gia”.
Theo ông, việc rà soát, hoàn thiện pháp luật phải gắn với tư duy quản lý kiến tạo phát triển. Cơ quan nhà nước cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, coi sự hài lòng của doanh nghiệp và người dân là thước đo chất lượng hoạt động. Đồng thời, cải cách phải bảo đảm sự cân bằng giữa yêu cầu tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh và hiệu quả quản lý nhà nước.
Doanh nghiệp phải là người đánh giá hiệu quả cải cách
Thời gian qua, nhiều điều kiện kinh doanh, ngành nghề kinh doanh có điều kiện và thủ tục hành chính đã được cắt giảm. Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Minh Thảo, vấn đề đặt ra là kết quả cải cách cần được đánh giá bằng những tiêu chí nào và ai là người thực hiện việc đánh giá đó.
“Chúng ta đã thực hiện rất nhiều cải cách. Nhiều điều kiện kinh doanh đã được cắt giảm, nhiều ngành, nghề kinh doanh có điều kiện cũng đã được cắt giảm. Vậy thì vấn đề đặt ra là chúng ta đánh giá kết quả của những cải cách đó như thế nào? KPI để đo lường hiệu quả cải cách là gì và ai sẽ là người đánh giá?”, bà Thảo nêu vấn đề.
Theo chuyên gia, cần thiết lập cơ chế đánh giá độc lập, chứ không chỉ dựa vào kết quả tự đánh giá của các bộ, ngành. Bởi điều quan trọng là xác định những cải cách đã thực sự phát huy hiệu quả, đi vào cuộc sống và mang lại lợi ích cho doanh nghiệp hay chưa.
Cùng với đó, cần tổ chức các cuộc khảo sát, điều tra trực tiếp từ phía doanh nghiệp. Các tổ chức như Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa, hiệp hội ngành hàng có thể thực hiện những khảo sát này để cung cấp thêm bằng chứng thực tiễn, tăng tính khách quan và độ tin cậy trong đánh giá hiệu quả chính sách.

Các chuyên gia tại Toạ đàm. (Ảnh: BTC)
Đặc biệt, TS. Nguyễn Minh Thảo cho rằng, mặc dù mỗi lĩnh vực và thủ tục hành chính có những đặc thù riêng, nhưng có hai tiêu chí cơ bản có thể sử dụng để đánh giá, đó là thời gian thực tế doanh nghiệp phải bỏ ra và chi phí tuân thủ mà doanh nghiệp phải chịu.
Theo bà, hiện nay, các bộ, ngành đã có phương pháp tính toán mức độ cắt giảm thời gian và chi phí tuân thủ khi đơn giản hóa thủ tục hành chính. Chẳng hạn, nếu một thủ tục được rút ngắn thời hạn giải quyết từ ba ngày xuống hai ngày thì có thể xác định được mức cắt giảm theo quy định. Tuy nhiên, con số này chưa chắc đã phản ánh đầy đủ thời gian doanh nghiệp thực sự phải bỏ ra để hoàn tất thủ tục.
"Vấn đề quan trọng là tiêu chí này phải do doanh nghiệp đánh giá, chứ không phải bộ, ngành đánh giá", bà Thảo nhấn mạnh.
Để làm rõ vấn đề, chuyên gia dẫn ví dụ một thủ tục hành chính được quy định thời gian giải quyết là hai ngày. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, doanh nghiệp có thể phải bổ sung, chỉnh sửa hồ sơ nhiều lần, chờ cơ quan chức năng phản hồi rồi tiếp tục hoàn thiện theo yêu cầu. Tổng thời gian để thực hiện xong thủ tục có thể kéo dài 10 ngày, thậm chí một tháng.
“Vậy thì thời gian thực tế doanh nghiệp phải bỏ ra để hoàn thành thủ tục mới là con số cần được đo lường, đánh giá, chứ không phải chỉ là hai ngày được quy định trong văn bản pháp luật”, bà Thảo lưu ý.
Đề cập đến kinh nghiệm quốc tế, TS. Nguyễn Minh Thảo cho biết, trong phương pháp đánh giá các quy trình, thủ tục của Ngân hàng Thế giới, những yếu tố được xem xét bao gồm số lượng thủ tục, thời gian thực hiện và chi phí để hoàn thành thủ tục. Trong đó, số lượng thủ tục có thể xác định từ văn bản pháp luật, nhưng thời gian thực hiện cần được khảo sát từ thực tế hoạt động của doanh nghiệp.

Bà Ngô Thị Tuyết, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường. (Ảnh: BTC)
Yêu cầu đánh giá hiệu quả cải cách từ góc độ doanh nghiệp cũng nhận được sự đồng tình của đại diện cơ quan quản lý nhà nước. Bà Ngô Thị Tuyết, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, trong quá trình cải cách, Bộ đã thực hiện đánh giá kết quả thông qua các tiêu chí về thời gian giải quyết và chi phí tuân thủ. Tuy nhiên, Bộ cũng mong muốn có thêm những cơ chế đánh giá độc lập, phản ánh đầy đủ hơn trải nghiệm và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.
“Có thể từ góc độ cơ quan quản lý nhà nước, chúng tôi cho rằng những cải cách đã thực hiện là phù hợp, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp. Nhưng trên thực tế, doanh nghiệp có thực sự được hưởng những lợi ích đó hay không, mức độ thuận lợi đến đâu thì cần có sự phản ánh, đánh giá từ chính cộng đồng doanh nghiệp”, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chia sẻ.
Theo đại diện Bộ Nông nghiệp và Môi trường, những thông tin từ doanh nghiệp và các tổ chức đánh giá độc lập sẽ giúp cơ quan quản lý nhìn nhận lại kết quả cải cách, qua đó có thêm cơ sở để tiếp tục rà soát, hoàn thiện chính sách.
Không dừng ở việc đánh giá kết quả, TS. Nguyễn Minh Thảo còn lưu ý đến tính thực chất của cơ chế đối thoại, tiếp nhận và giải quyết kiến nghị của doanh nghiệp.
“Không phải cứ thiết lập một cơ chế tiếp nhận, sau đó doanh nghiệp gửi kiến nghị đến rồi cơ quan tiếp nhận lại chuyển kiến nghị đó sang một nơi khác và đề nghị cơ quan có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho doanh nghiệp. Vấn đề quan trọng hơn là trả lời như thế nào, kết quả giải quyết đến đâu và doanh nghiệp đã thực sự hài lòng với câu trả lời, với kết quả xử lý đó hay chưa”, bà Thảo phân tích.
Đối với vấn đề này, bà Ngô Thị Tuyết cho biết Bộ Nông nghiệp và Môi trường luôn coi trọng những phản ánh, kiến nghị từ người dân và doanh nghiệp. Ngoài hệ thống tiếp nhận phản ánh theo quy định của Chính phủ, Bộ còn tổng hợp các kiến nghị của cử tri, những vướng mắc do các bộ, ngành, địa phương và Bộ Tư pháp chuyển đến.
Những thông tin này được xem là nguồn đầu vào quan trọng để Bộ nghiên cứu, rà soát các quy định pháp luật và đề xuất cơ chế tháo gỡ khó khăn. Thời gian qua, từ những phản ánh của doanh nghiệp, Bộ đã kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét, ban hành những cơ chế nhằm giải quyết các vướng mắc trong lĩnh vực đất đai, khoáng sản, môi trường.
Bên cạnh cơ chế giám sát và phản hồi từ doanh nghiệp, chất lượng đội ngũ thực thi cũng được xác định là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả cải cách. Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội Mạc Quốc Anh cho rằng, trong bối cảnh các quy định pháp luật thường xuyên thay đổi, đội ngũ cán bộ trực tiếp giải quyết thủ tục hành chính, đặc biệt tại cấp xã, phường, đang phải đối mặt với khối lượng công việc lớn và yêu cầu ngày càng cao về năng lực chuyên môn.
"Doanh nghiệp chúng tôi mong muốn có một đội ngũ cán bộ thực thi công vụ chuyên nghiệp, có trình độ, sử dụng thành thạo công nghệ số và có năng lực ngoại ngữ, đáp ứng yêu cầu của hoạt động đầu tư, kinh doanh và hợp tác quốc tế", theo ông Mạc Quốc Anh.
Tuy nhiên, TS. Nguyễn Minh Thảo nhìn nhận vấn đề từ phạm vi rộng hơn. Theo bà, nguồn nhân lực là yếu tố quyết định, nhưng để cán bộ thực thi có thể giải quyết công việc hiệu quả, trước hết hệ thống pháp luật phải được xây dựng rõ ràng, thống nhất và dễ áp dụng.
“Nếu khâu xây dựng chính sách được thực hiện tốt thì người thực thi mới có thể đọc, hiểu, vận dụng và triển khai đúng quy định. Điều đó cũng giúp tránh tình trạng chính sách vừa mới ban hành đã phải sửa đổi”, bà Thảo nhấn mạnh.
Chuyên gia Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược cũng đồng thời lưu ý, cải cách phải có sự vào cuộc đồng đều của các cơ quan, đơn vị. Bởi những thay đổi tích cực trong một lĩnh vực có thể bị suy giảm hiệu quả, thậm chí bị triệt tiêu nếu các lĩnh vực liên quan vẫn trì trệ.
