Bước chuyển quan trọng trong tư duy lập pháp
Tại Phiên họp Chính phủ chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 7/2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng cho biết, Chính phủ thống nhất phương án đổi tên dự án "Luật Đô thị đặc biệt" thành "Luật Phát triển đô thị". Việc đổi tên nhằm phản ánh đầy đủ hơn nội dung dự án luật, đồng thời phù hợp với việc mở rộng phạm vi áp dụng đối với TP.HCM, các thành phố trực thuộc Trung ương và các khu kinh tế đặc biệt.
Chia sẻ với Reatimes, TS. KTS Vũ Hoài Đức, Giảng viên Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, việc Chính phủ thống nhất đổi tên dự án từ “Luật Đô thị đặc biệt” thành “Luật Phát triển đô thị” không đơn thuần là thay đổi tên gọi, mà phản ánh một bước chuyển quan trọng trong tư duy lập pháp và cách tiếp cận đối với quá trình phát triển đô thị ở Việt Nam.
"Tên gọi ban đầu chủ yếu hướng đến việc thiết kế cơ chế cho một số đô thị đặc thù, còn tên gọi mới cho thấy tầm nhìn rộng hơn: Xây dựng một khuôn khổ pháp lý chung cho sự phát triển của toàn bộ hệ thống đô thị quốc gia, đồng thời vẫn bảo đảm những cơ chế phù hợp với từng loại hình đô thị. Đây là sự chuyển dịch từ tư duy quản lý theo từng trường hợp, sang tư duy kiến tạo phát triển trên quy mô hệ thống", TS. KTS Vũ Hoài Đức nêu.
Việc mở rộng phạm vi điều chỉnh của dự luật cũng phản ánh rõ định hướng đó, theo TS. KTS Vũ Hoài Đức. Dự luật hướng tới tạo lập một hành lang pháp lý thống nhất cho các đô thị có vai trò động lực phát triển ở nhiều cấp độ khác nhau, thay cho cách tiếp cận chủ yếu dành cho các đô thị đặc biệt trước đây.
Ở góc độ quy hoạch, TS. KTS Vũ Hoài Đức cho rằng, điều quan trọng không nằm ở việc gọi tên một loại hình đô thị, mà là tạo lập được một thể chế đủ linh hoạt để mỗi đô thị phát huy đúng vai trò và lợi thế của mình trong tổng thể mạng lưới đô thị quốc gia. Các đô thị cần tuân thủ một khung pháp lý thống nhất, đồng thời có không gian thể chế đủ rộng để xử lý những vấn đề đặc thù.
Một điểm đáng chú ý khác là dự luật thể hiện khá rõ tư duy lập pháp theo mô hình "khung chung - cơ chế đặc thù". Theo đó, pháp luật vừa bảo đảm tính thống nhất của hệ thống, vừa tạo điều kiện để những đô thị có vai trò đầu tàu hoặc giữ vị trí chiến lược được áp dụng các cơ chế phù hợp với yêu cầu phát triển.
"Đối với TP.HCM, các cơ chế đặc thù về phân quyền, phân cấp và tổ chức phát triển tiếp tục được kế thừa và luật hóa, qua đó tạo nền tảng pháp lý ổn định hơn cho quá trình phát triển lâu dài", TS.KTS Vũ Hoài Đức nói và cho biết, cách tiếp cận này đang được nhiều quốc gia phát triển áp dụng.
Đơn cử, Đức xây dựng Bộ luật Xây dựng Liên bang, hay Baugesetzbuch, làm khung pháp lý thống nhất, đồng thời trao cho chính quyền các bang và địa phương quyền chủ động lựa chọn các công cụ quy hoạch phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Còn Hàn Quốc duy trì một hệ thống pháp luật thống nhất về phát triển đô thị nhưng thiết kế các cơ chế đặc thù đối với những đô thị và khu vực có vai trò chiến lược. Cách làm này vừa bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, vừa tạo dư địa thể chế để các địa phương phát huy lợi thế riêng và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
TS. KTS. Vũ Hoài Đức cũng cho rằng, ý nghĩa lớn nhất của việc đổi tên dự luật không nằm ở sự thay đổi về mặt thuật ngữ, mà ở thông điệp về một tư duy phát triển mới. Pháp luật được kỳ vọng đóng vai trò thúc đẩy phát triển, tạo điều kiện để các đô thị chủ động đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát huy hiệu quả các nguồn lực.
"Đây cũng là nền tảng quan trọng để xây dựng một hệ thống đô thị hiện đại, bền vững và có khả năng thích ứng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước", theo TS. KTS Vũ Hoài Đức.
Để quy hoạch thực sự trở thành công cụ dẫn dắt phát triển
Việc mở rộng phạm vi điều chỉnh của dự luật vì vậy cũng đặt ra yêu cầu phải bảo đảm sự đồng bộ trong quá trình tổ chức thực hiện. Theo TS. KTS Vũ Hoài Đức, điều quan trọng nhất là Luật Phát triển đô thị phải tạo lập được một khuôn khổ thể chế thống nhất để quy hoạch thực sự trở thành công cụ dẫn dắt phát triển.
"Trong quy hoạch đô thị có một nguyên lý rất cơ bản: Quy hoạch chỉ phát huy giá trị khi gắn chặt với sử dụng đất, đầu tư hạ tầng và phân bổ nguồn lực. Nếu quy hoạch đi một hướng, đất đai đi một hướng, hạ tầng đi một hướng thì dù đồ án được lập tốt đến đâu cũng rất khó đi vào cuộc sống", TS. KTS Vũ Hoài Đức phân tích.
Trên cơ sở đó, TS. KTS Vũ Hoài Đức cho rằng, Luật Phát triển đô thị nên tập trung giải quyết 5 nhóm vấn đề cốt lõi:
Thứ nhất, bảo đảm sự đồng bộ giữa Luật Phát triển đô thị với Luật Đất đai, Luật Quy hoạch và các luật có liên quan. Đây là điều kiện tiên quyết để khắc phục tình trạng chồng chéo, xung đột pháp lý - một trong những nguyên nhân lớn nhất làm chậm quá trình phát triển đô thị hiện nay. Quy hoạch đô thị cần được xác định rõ là công cụ tổ chức không gian và định hướng phát triển, trong khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là công cụ phân bổ nguồn lực đất đai. Hai hệ thống này phải có sự phân công rõ ràng nhưng vận hành đồng bộ.
"Singapore là một ví dụ tiêu biểu khi xây dựng được hệ thống pháp luật thống nhất, trong đó quy hoạch chiến lược và quản lý đất đai luôn được liên kết chặt chẽ, tạo điều kiện để các định hướng phát triển nhanh chóng được triển khai trên thực tế", ông Đức dẫn chứng.
Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát. Đô thị phát triển rất nhanh, vì vậy nếu mọi quyết định đều phải xin ý kiến theo nhiều tầng nấc thì sẽ bỏ lỡ cơ hội phát triển. Đặc biệt đối với các đô thị đầu tàu như TP. Hồ Chí Minh, cần trao quyền chủ động nhiều hơn trong việc quyết định các vấn đề quy hoạch và phát triển, đồng thời thiết lập cơ chế giám sát minh bạch để bảo đảm quyền lực được thực thi đúng mục tiêu và đúng trách nhiệm.

Đối với các đô thị đầu tàu như TP. Hồ Chí Minh, cần trao quyền chủ động nhiều hơn trong việc quyết định các vấn đề quy hoạch và phát triển. (Ảnh minh hoạ: Lê Toàn/Báo Đầu tư)
TS. KTS Vũ Hoài Đức chỉ ra: "Kinh nghiệm của Đức cho thấy, mặc dù có một khuôn khổ pháp luật thống nhất ở cấp liên bang, nhưng chính quyền các bang và địa phương vẫn được trao quyền rất lớn trong việc lựa chọn công cụ quy hoạch phù hợp với điều kiện phát triển của mình".
Thứ ba, tạo lập cơ chế huy động nguồn lực gắn với quy hoạch, trong đó đất đai phải thực sự trở thành nguồn lực nội sinh cho phát triển đô thị.
Một trong những nguyên nhân khiến nhiều quy hoạch chậm triển khai là thiếu nguồn lực tài chính. Luật cần thiết lập cơ chế để phần giá trị gia tăng của đất đai do quy hoạch và đầu tư hạ tầng tạo ra được tái đầu tư cho chính đô thị đó.
"Các công cụ thu hồi giá trị đất (land value capture), cơ chế chia sẻ lợi ích, phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) hay hợp tác công - tư (PPP) cần được quy định rõ ràng hơn. Thực tiễn ở các nước phát triển cho thấy việc sử dụng các công cụ thu hồi giá trị đất đã góp phần quan trọng trong việc đầu tư và hoàn thiện hạ tầng đô thị mà không tạo áp lực quá lớn lên ngân sách nhà nước", theo chuyên gia.
Thứ tư, là tích hợp các yêu cầu về phát triển xanh, chuyển đổi số và thích ứng với biến đổi khí hậu vào quá trình phát triển đô thị.
Theo TS. KTS Vũ Hoài Đức, đây đã trở thành yêu cầu đối với các đô thị hiện đại. Các quy hoạch và chương trình phát triển đô thị cần tích hợp giải pháp về hạ tầng xanh, không gian ngầm, đô thị thông minh, quản trị số và khả năng chống chịu trước thiên tai, biến đổi khí hậu.
"Hàn Quốc là một trong những quốc gia đi đầu trong việc luật hóa phát triển đô thị thông minh, tạo hành lang pháp lý để công nghệ số được tích hợp ngay từ khâu quy hoạch, đầu tư và vận hành đô thị. Đây là kinh nghiệm rất đáng tham khảo đối với Việt Nam", ông Đức nêu.
Thứ năm, là xây dựng cơ chế theo dõi, đánh giá và điều chỉnh quy hoạch dựa trên dữ liệu và thực tiễn phát triển.
Theo TS.KTS Vũ Hoài Đức, quy hoạch không phải là một bản vẽ bất biến mà cần được cập nhật để thích ứng với những biến động kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, việc điều chỉnh phải dựa trên các tiêu chí minh bạch, có căn cứ khoa học và được giám sát chặt chẽ, tránh điều chỉnh tùy tiện làm phá vỡ cấu trúc phát triển đô thị.
Để thực hiện được yêu cầu này, cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quy hoạch thống nhất, có khả năng kết nối giữa các ngành, đồng thời công khai thông tin để người dân và doanh nghiệp tham gia giám sát quá trình thực hiện.
"Điểm cốt lõi của Luật Phát triển đô thị là tạo lập được một khuôn khổ thể chế đủ đồng bộ để quy hoạch thực sự trở thành công cụ dẫn dắt phát triển. Sự gắn kết giữa quy hoạch, đất đai, hạ tầng và nguồn lực sẽ tạo điều kiện để các đô thị phát triển nhanh, bền vững và phù hợp hơn với yêu cầu thực tiễn. Đây cũng là mục tiêu Luật Phát triển đô thị cần hướng tới trong giai đoạn phát triển mới của đất nước", TS.KTS Vũ Hoài Đức nhấn mạnh.
