Con số 2% và thực tế "đói vốn" cho R&D
Tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2026, chia sẻ về chính sách huy động vốn cho mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, PGS. TS. Vũ Sỹ Cường, Kinh tế trưởng Viện Công nghệ và Phát triển tài chính (Học viện Tài chính) cho biết, để có thể thực hiện bước nhảy vọt về kinh tế, Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 đã xác định rõ quan điểm, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực chính để phát triển kinh tế - xã hội...
Tuy nhiên, động lực ấy cần được thúc đẩy bởi một "cỗ máy" tài chính đủ mạnh. Theo chuyên gia, vốn cho mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đến từ 3 nguồn: Ngân sách nhà nước, vốn của doanh nghiệp và nguồn vốn từ thị trường.
Trên thực tế, lịch sử chính sách của nước ta đã có những quy định nhằm khuyến khích nguồn lực tài chính cho R&D. Từ năm 1992, Nghị định 35-HĐBT đã yêu cầu tăng cường huy động nguồn tài chính cho khoa học công nghệ.
Từ Nghị quyết 20-NQ/TW năm 2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 đã có yêu cầu chi tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho khoa học công nghệ. “Tuy nhiên, khi thống kê lại thì chưa bao giờ chúng ta đạt được con số này. Nhiều năm chỉ đạt quanh mức 1%, có năm cao nhất là 1,98%”, PGS. TS. Vũ Sỹ Cường nhấn mạnh.
Con số 2% vẫn như một đích đến xa vời, trong khi thực tế tổng chi quốc gia cho nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam dù có tăng qua các năm nhưng vẫn ở mức rất khiêm tốn. Cụ thể, tỷ lệ chi/GDP vào năm 2015 là 0,44%, năm 2019 tăng nhẹ lên 0,53% và rồi lại sụt giảm xuống còn 0,418% vào năm 2023.
So sánh Việt Nam với khu vực và thế giới, khoảng cách trong đầu tư cho R&D lại càng trở nên lớn hơn. Mức chi cho R&D của thế giới năm 2021 trung bình là 2,62% GDP. Những “con hổ” công nghệ như Hàn Quốc đã chi tới 4,8% GDP, hay Trung Quốc là 2,58% GDP cho nghiên cứu và phát triển.
Điều này dẫn đến một sự hoài nghi về tính khả thi của các mục tiêu dài hạn khi nội lực tài chính công vẫn chưa đạt được yêu cầu chi đề ra. “Câu hỏi được đặt ra là việc chi ngân sách nhà nước còn chưa đạt được mục tiêu thì liệu có thể chờ đợi gì từ doanh nghiệp và thị trường?”, ông Cường băn khoăn.

Toàn cảnh Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2026
Doanh nghiệp là trung tâm nhưng "ngại" tiếp cận chính sách
Theo PGS. TS. Vũ Sỹ Cường, trong khi Nhà nước đóng vai trò dẫn dắt, thì theo xu thế hiện đại, doanh nghiệp sẽ là lực lượng trung tâm, tiên phong trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Tuy nhiên, thực tế chi tiêu của doanh nghiệp cho R&D ở Việt Nam chỉ đạt 0,2% GDP, thấp hơn nhiều so với mức 1,7% ở Trung Quốc và 3,6% ở Hàn Quốc. Điều đáng nói là dù Chính phủ đã ban hành hàng loạt chính sách ưu đãi về thuế, nhưng mức độ hấp thụ của doanh nghiệp vẫn còn rất hạn chế.
Theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2013, doanh nghiệp được hưởng thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm đối với các thu nhập từ các dự án đầu tư mới trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ cao; miễn thuế 4 năm đầu và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm với các doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư khoa học và công nghệ; miễn thuế thu nhập 1 năm từ các hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, thu nhập từ bán sản phẩm sản xuất thử nghiệm, sản phẩm từ công nghệ mới... Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 cho phép khấu trừ 200% chi phí R&D và đổi mới sáng tạo khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.
Thế nhưng, tại sao doanh nghiệp vẫn chưa mặn mà? Theo PGS. TS. Vũ Sỹ Cường, nguyên nhân chủ yếu nằm ở thủ tục phức tạp, cơ chế thiếu linh hoạt và tâm lý e ngại rủi ro trong thực thi chính sách. Dù có nhiều chính sách ưu đãi, nhưng việc triển khai chưa hiệu quả, khiến nguồn lực chưa được khơi thông. Đây là một thực trạng cần lưu ý khi doanh nghiệp, vốn được coi là trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, lại đang phải "tự bơi" giữa "dòng xoáy" công nghệ mà thiếu đi sự hỗ trợ thực sự hiệu quả.
Từ "đầu tư công, quản trị tư" đến bài toán chia sẻ rủi ro
Nhận diện được những điểm nghẽn, một luồng gió mới đã xuất hiện với sự ra đời của Nghị định số 264/2025/NĐ-CP quy định về Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và quỹ đầu tư mạo hiểm của địa phương. Nghị định này thể hiện rõ 2 triết lý cốt lõi “đầu tư công, quản trị tư” và “dùng đầu tư công để dẫn dắt đầu tư tư”.
Điểm sáng của chính sách này nằm ở tư duy “vốn mồi - thị trường hóa”. Quỹ Đầu tư mạo hiểm quốc gia có quy mô tối thiểu 2.000 tỷ đồng trong 5 năm đầu. Nhà nước chỉ góp tối đa 30% vốn điều lệ, phần còn lại do khu vực tư nhân đảm nhận. Ở cấp địa phương, ngân sách tỉnh có thể góp tối đa 49% vốn điều lệ, tạo sự linh hoạt trong phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp.
Quan trọng hơn, PGS. TS. Vũ Sỹ Cường nhận mạnh, Nhà nước đã bắt đầu chấp nhận cuộc chơi rủi ro của công nghệ khi Nghị định 264 cho phép tổng mức tổn thất phát sinh từ hoạt động đầu tư có sử dụng vốn điều lệ không vượt quá ngưỡng rủi ro 50% vốn điều lệ của quỹ. Đây là một sự thừa nhận thực tế rằng nghiên cứu và đổi mới sáng tạo luôn đi kèm với rủi ro, và nếu không chấp nhận tổn thất, sẽ khó có thể có được đột phá.
Tuy nhiên, để những chính sách này không chỉ nằm trên giấy, Việt Nam cần một cuộc cách mạng về tư duy quản lý. Chuyên gia cho rằng cần triển khai cơ chế nhằm đồng tài trợ R&D cho doanh nghiệp, Nhà nước tài trợ 30 - 70% kinh phí, doanh nghiệp đối ứng phần còn lại để chia sẻ rủi ro. Đồng thời, cần nghiên cứu thử nghiệm cơ chế đặt hàng hoặc mua sản phẩm đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp, tạo thị trường đầu ra cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
Việc đơn giản hóa, cụ thể hóa các chính sách chi cho R&D và tăng cường phổ biến, hướng dẫn cho các doanh nghiệp về các ưu đãi thuế cũng là những việc làm cần thiết. PGS. TS. Vũ Sỹ Cường lưu ý, nếu không gỡ bỏ được tâm lý e ngại về thủ tục phức tạp và cơ chế xin - cho, thì dù có bao nhiêu quỹ được thành lập, nguồn vốn từ thị trường và doanh nghiệp vẫn sẽ đứng ngoài cuộc chơi.
Chặng đường phía trước của mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức. Khi mà nguồn vốn từ ngân sách nhà nước - "vốn mồi" quan trọng nhất vẫn chưa thể chạm ngưỡng 2% như kỳ vọng, thì việc khơi thông dòng chảy vốn từ doanh nghiệp và thị trường càng trở nên cấp thiết.
Để thực sự biến khoa học công nghệ thành động lực, Nhà nước cần đóng vai trò là người bảo trợ rủi ro chuyên nghiệp, thay vì chỉ là người cấp ngân sách. Chỉ khi đó, niềm tin của doanh nghiệp mới được củng cố, và dòng vốn từ thị trường mới thực sự tuôn chảy vào những phòng thí nghiệm, những trung tâm R&D, để tạo nên một Việt Nam thịnh vượng dựa trên sức mạnh của trí tuệ./.