Mục tiêu tăng trưởng hai con số là “mệnh lệnh phát triển”: Bài toán niềm tin và dòng vốn

Mục tiêu tăng trưởng hai con số là “mệnh lệnh phát triển”: Bài toán niềm tin và dòng vốn

Thứ Hai, 20/04/2026 - 06:10

Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm giai đoạn 2026 - 2031 được Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng xác định là "mệnh lệnh phát triển". Phía sau đó là bài toán đa tầng về cấu trúc vốn, năng lực hấp thụ của nền kinh tế và đặc biệt là niềm tin của khu vực tư nhân, hướng tới khơi thông nguồn lực lớn phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng cao.

Trong bài phát biểu nhậm chức trước Quốc hội và đồng bào, cử tri cả nước, ngày 7/4, Thủ tướng Lê Minh Hưng cho biết Đại hội XIV của Đảng đã xác lập rõ tầm nhìn, mục tiêu, động lực và Chương trình hành động cho giai đoạn phát triển mới. Một trong những định hướng trọng tâm của nhiệm kỳ này là quyết tâm, nỗ lực cao nhất điều hành nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao và bền vững. Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm giai đoạn 2026 - 2031 là mệnh lệnh phát triển để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước.

Để đạt được điều đó, bài toán không dừng lại ở việc mở rộng đầu tư hay gia tăng tín dụng, mà nằm ở khả năng khơi thông các nguồn lực trong xã hội, đồng thời phân bổ hiệu quả dòng vốn vào những khu vực tạo ra giá trị gia tăng thực chất cho nền kinh tế.

Nhìn lại bức tranh kinh tế vĩ mô quý I/2026, có thể thấy nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà phục hồi tích cực trong bối cảnh thế giới còn nhiều bất định. GDP tăng 7,83%, cao hơn mức 7,07% cùng kỳ năm trước, với các trụ đỡ chính đến từ sản xuất công nghiệp, dịch vụ tiêu dùng - du lịch và đầu tư.

Chia sẻ với Reatimes, chuyên gia kinh tế, TS. Bùi Trinh nhận định: "Kết quả quý đầu tiên của năm rất đáng tự hào, và là con số đầy ấn tượng khi đặt cạnh mức tăng 7,07% của cùng kỳ năm 2025. Sự bứt phá mạnh mẽ này tạo tâm lý hứng khởi cho cả hệ thống chính trị và cộng đồng doanh nghiệp ngay từ những tháng đầu năm".

Điểm đáng chú ý còn nằm ở những chuyển động trong tư duy điều hành của Chính phủ. TS. Bùi Trinh rất đồng tình và đánh giá cao định hướng của Chính phủ trong việc thay đổi tư duy điều hành, chuyển từ “cho phép” sang “phục vụ”, từ kiểm soát sang kiến tạo không gian phát triển.

Song song với đó, các yêu cầu cải cách thể chế được đặt ra mạnh mẽ chưa từng có. Chính phủ đã yêu cầu cắt giảm 50% thời gian giải quyết thủ tục hành chính; cắt giảm 50% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính; cắt giảm tối thiểu 30% các ngành nghề kinh doanh có điều kiện; loại bỏ hoàn toàn 100% các điều kiện kinh doanh không cần thiết.

TS. Bùi Trinh cũng lưu ý, kinh tế Việt Nam luôn duy trì một quy luật khá nhất quán: Tăng trưởng GDP “quý sau cao hơn quý trước”. Tuy nhiên, khoảng cách tăng trưởng giữa các quý thường không quá lớn và thiếu những cú “nhảy vọt” để có thể phá vỡ ngưỡng trần tăng trưởng cũ.

Chính vì vậy, mặc dù quý I/2026 đã đạt mức 7,83%, nhưng để tăng trưởng trên 10% cho cả năm 2026 là một mục tiêu rất thách thức, đòi hỏi những nỗ lực phi thường và những giải pháp căn cơ, đặc biệt là về cấu trúc kinh tế trong ba quý còn lại.

Ở góc độ nguồn lực, đầu tư công vẫn giữ vai trò “vốn mồi”, dẫn dắt và kích hoạt các động lực tăng trưởng. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng vốn đầu tư toàn xã hội những năm gần đây duy trì ở mức khoảng 32 - 33% GDP. Riêng năm 2025, tổng vốn đầu tư thực hiện ước đạt trên 4,15 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 32,3% GDP, trong đó đầu tư công chiếm khoảng 20 - 25% tổng vốn.

Trong nhiệm kỳ này, Thủ tướng Lê Minh Hưng cho biết, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần đạt khoảng 40% GDP, tương đương 38,5 triệu tỷ đồng. Trong đó, vốn đầu tư công từ ngân sách Nhà nước khoảng trên 8 triệu tỷ đồng, 80% còn lại bắt buộc phải huy động từ nguồn lực xã hội, doanh nghiệp trong nước và vốn đầu tư trực tiếp, gián tiếp từ nước ngoài.

Đồng tình với điều này, TS. Bùi Trinh nhìn nhận, không thể tăng trưởng hai con số nếu chỉ trông chờ vào đầu tư công. Cần phải nhìn rộng hơn vào cấu trúc động lực tăng trưởng, đặc biệt là vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong đóng góp vào GDP.

“Khu vực kinh tế ngoài nhà nước, bao gồm doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh cá thể và hợp tác xã tư nhân hiện đóng góp hơn 50% GDP, nhiều hơn so với đóng góp của khu vực FDI (khoảng trên dưới 20%), và là "động lực sống” của nền kinh tế. Do đó, mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới phụ thuộc rất lớn vào khả năng phục hồi và bứt phá của khu vực này”, TS. Bùi Trinh khẳng định.

Vị chuyên gia cho rằng, việc khơi dậy niềm tin của người dân và doanh nghiệp là yếu tố quan trọng để kích hoạt nguồn lực còn rất dồi dào trong dân, không chỉ là nguồn vốn tài chính mà cả trí tuệ, kỹ năng, sức lao động, tinh thần và khát vọng vươn lên làm giàu chính đáng. Nếu người dân và doanh nghiệp có niềm tin, họ sẵn sàng dấn thân trong lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, đổi mới sáng tạo, tạo đóng góp thực chất cho tăng trưởng kinh tế.

TS. Bùi Trinh nhấn mạnh, niềm tin đó cần đến từ một nền tảng chính sách ổn định và có lợi cho người dân, doanh nghiệp. Vì vậy, trước hết, cần rà soát lại toàn bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, từ luật, nghị định đến thông tư, để đảm bảo chính sách ổn định và dễ dự đoán.

Thứ hai, tiếp tục rà soát lại các quy định kinh doanh. Thủ tướng đã yêu cầu trước ngày 20/4, các bộ phải trình phương án cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, cắt giảm ngành nghề kinh doanh có điều kiện, phân cấp giải quyết thủ tục hành chính theo Kết luận số 18-KL/TW của Trung ương. Đây là chỉ đạo đúng đắn và cần thiết trong thời điểm này, đồng thời đòi hỏi trách nhiệm rất lớn của các bộ, ngành với quyết tâm rất cao.

Thứ ba, hạn chế tình trạng văn bản điều hành thay đổi quá nhanh, khi có trường hợp công văn vừa ban hành chưa lâu đã bị thay thế, khiến doanh nghiệp lúng túng trong việc thực thi.

Thứ tư, tăng cường kỷ luật thực thi trong bộ máy, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu trong việc trực tiếp nắm bắt thực tế, cải thiện cách thức ứng xử với người dân và doanh nghiệp. Một chủ trương, chính sách dù đúng đến đâu, mà xuống đến cấp cơ sở lại vướng mắc do thái độ làm việc của cán bộ thực thi thì cuối cùng vẫn là kém hiệu quả. 

Ở góc độ thể chế, niềm tin là “chìa khóa” để kích hoạt nguồn lực trong dân, còn ở góc độ vận hành nền kinh tế, bài toán lớn là làm thế nào khơi thông và dẫn dắt dòng vốn đi vào các lĩnh vực đầu tư, sản xuất - kinh doanh, tạo ra giá trị gia tăng cao và bắt kịp xu thế phát triển của thế giới.

Ông Phạm Xuân Hòe, nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước), Tổng thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam cho rằng, kết quả tăng trưởng năm 2025 và quý I/2026 là rất đáng khích lệ, song cần được nhìn nhận một cách thận trọng trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động.

“Nếu nhìn vào cung tiền và dòng vốn, có thể thấy nguồn lực chủ yếu của nền kinh tế hiện nay vẫn đến từ kênh tín dụng, tức là hệ thống ngân hàng. Cụ thể, theo tính toán của một số viện nghiên cứu, tín dụng ngân hàng chiếm khoảng 60% tổng dòng vốn duy trì tăng trưởng, trong khi thị trường vốn, bao gồm thị trường trái phiếu và chứng khoán, chỉ đóng góp khoảng 15 - 20%. Phần còn lại là trái phiếu Chính phủ và một phần nhỏ từ khu vực tư nhân”, ông Hòe nêu.

Đồng thời, quy mô dư nợ tín dụng cũng đang ở mức rất lớn. Tính đến cuối năm, tổng dư nợ cho vay của nền kinh tế đã đạt khoảng 18,4 triệu tỷ đồng, tăng trưởng hơn 19%. Dự kiến năm nay, tín dụng tiếp tục tăng khoảng 15%, tương đương với việc đưa thêm gần 3 triệu tỷ đồng vào nền kinh tế.

Nền kinh tế hiện có ba khu vực chính: Khu vực nhà nước, đặc biệt là đầu tư công, có quy mô khoảng trên 1 triệu tỷ đồng; khu vực tư nhân đạt trên 2,1 triệu tỷ đồng nhưng phục hồi còn chậm, tăng trưởng đạt khoảng 5,8%. Khu vực FDI giải ngân khoảng 20 - 23 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng trên 11%.

“Như vậy, xét về đầu tư, khu vực nhà nước và FDI vẫn đang là hai trụ cột chính. Tuy nhiên, đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số, nếu vẫn phụ thuộc lớn vào đầu tư công và tín dụng ngân hàng, thì về bản chất nền kinh tế đang dựa vào việc mở rộng đồng thời cả chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, trong khi vốn FDI dễ chịu ảnh hưởng bởi các biến động địa chính trị toàn cầu”, Tổng thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam phân tích.

Trong khi đó, động lực cốt lõi của tăng trưởng bền vững lại nằm ở năng suất lao động, cần được kiến tạo bởi đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học công - nghệ và nâng cao năng suất lao động. Tuy nhiên, những động lực này trong nền kinh tế Việt Nam vẫn còn khá khiêm tốn.

Vì vậy, ông Phạm Xuân Hòe cho rằng, với mục tiêu tăng trưởng cao, điều hành kinh tế trong thời gian tới nhiều khả năng vẫn phải dựa vào việc mở rộng chính sách tài khóa, đặc biệt là đầu tư công, đồng thời với chính sách tiền tệ, tức là phải tăng cung tín dụng và chấp nhận một mức độ rủi ro nhất định.

Tuy nhiên, về dài hạn, yêu cầu đặt ra là phải có những đột phá mang tính cấu trúc. Trong đó, đột phá về thể chế là yếu tố then chốt, bởi chỉ khi tháo gỡ được các rào cản thể chế thì mới có thể giải phóng năng lực sản xuất của nền kinh tế.

Bên cạnh đó, theo ông Hòe, khả năng hấp thụ vốn của khu vực sản xuất - kinh doanh cũng là điều đáng bàn, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) trong các lĩnh vực như nông nghiệp, chế biến nông sản xuất khẩu, sản xuất hàng tiêu dùng hay cơ khí. Đây là những ngành sản xuất nền tảng của nền kinh tế, nhưng lại gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận và chịu đựng mặt bằng lãi suất đang có xu hướng tăng như hiện nay.

"Dòng tiền luôn có xu hướng chảy vào nơi có lợi nhuận cao và có tài sản bảo đảm an toàn. Ở góc độ vốn tín dụng, kênh cho vay bất động sản vẫn có sức hấp dẫn nhất định. Trong khi đó, nếu khu vực sản xuất - kinh doanh không đạt được mức lợi nhuận đủ cao thì doanh nghiệp khó có khả năng chi trả lãi vay", Ông Hòe cho hay.

Mục tiêu tăng trưởng hai con số là “mệnh lệnh phát triển”: Bài toán niềm tin và dòng vốn- Ảnh 1.

Chỉ khi tháo gỡ được các rào cản thể chế thì mới có thể giải phóng năng lực sản xuất của nền kinh tế. (Ảnh minh họa)

Ở góc độ điều hành, nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng cho rằng, cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp:

Thứ nhất, tiếp tục mở rộng chính sách tài khóa, tận dụng dư địa còn lại, đặc biệt là đẩy mạnh đầu tư công. Tuy nhiên, trọng tâm không chỉ nằm ở quy mô, mà còn là tốc độ và hiệu quả giải ngân. Cần cải thiện quy trình, nhất là khâu qua Kho bạc Nhà nước, để dòng tiền được đưa nhanh vào công trình, tạo hiệu ứng lan tỏa và vòng quay vốn, qua đó giảm áp lực cho hệ thống tín dụng.

Thứ hai, cần đánh giá lại một cách căn cơ diễn biến dòng vốn trong thị trường bất động sản, cụ thể là hệ số vay nợ, tồn kho và tình trạng nắm giữ quỹ đất lớn nhưng chậm triển khai. Thực tế, bất động sản là một trong những kênh hấp thụ vốn tín dụng chủ lực trong những năm qua, đến hết năm 2025 chiếm 24% tổng dư nợ nền kinh tế. Đây cũng là lĩnh vực có mức độ lan tỏa lớn, liên quan tới hơn 40 ngành nghề. Khi dòng vốn tập trung vào các dự án, quỹ đất chậm triển khai hoặc không đưa vào sử dụng, vòng quay vốn sẽ kém hiệu quả, tạo ra sự méo mó trong phân bổ nguồn lực. Đồng thời, việc kiểm soát hợp lý hệ số vay nợ và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong lĩnh vực này cũng góp phần giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng, đặc biệt trong bối cảnh tín dụng vẫn là kênh dẫn vốn chủ đạo.

Thứ ba, hoàn thiện thể chế và các chính sách mới nhằm tạo động lực cho tăng trưởng. Các lĩnh vực như khoa học - công nghệ, chuyển đổi số chỉ có thể phát huy hiệu quả khi có khuôn khổ thể chế phù hợp. Đồng thời, cần bảo đảm bộ máy thực thi vận hành theo hướng phục vụ, để doanh nghiệp tập trung vào sản xuất - kinh doanh, tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

“Ở phía chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước có thể sử dụng công cụ tái cấp vốn để hướng tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên. Ví dụ, có thể nghiên cứu xây dựng quỹ tái cấp vốn xanh nhằm hỗ trợ các dự án năng lượng sạch, logistics xanh, nông nghiệp công nghệ cao”, ông Phạm Xuân Hoè gợi ý.

Thứ tư, giữ vững ổn định vĩ mô, nâng cao sức chịu đựng của hệ thống ngân hàng. Lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu tăng trưởng cao nhưng phải bền vững. Tuy nhiên, nếu tiếp tục mở rộng mạnh cung tiền, cả từ ngân sách (tài khóa) và từ hệ thống ngân hàng (tiền tệ), thì áp lực giữ ổn định kinh tế vĩ mô sẽ là rất lớn. Trong đó, áp lực lạm phát, điều hành lãi suất, câu chuyện tỷ giá đều là những biến số rất nhạy cảm và sẽ trở thành bài toán khó đối với mục tiêu tăng trưởng cao.

Theo chuyên gia, trong giai đoạn này, việc mở rộng vai trò của chính sách tài khóa, tăng đầu tư công để phát triển hạ tầng chắc chắn sẽ tạo ra tăng trưởng do nợ công vẫn ở mức thấp (khoảng 34% GDP trong khi trần Quốc hội cho phép là 65%). Bên cạnh đó, Việt Nam đang có nguồn thu ngân sách khá tốt, nhưng cần ưu tiên đầu tư cho hạ tầng chứ không phải đưa vào chi thường xuyên.

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Thương hiệu dẫn đầu

Lên đầu trang
Top