PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng: Lãi suất không còn "rẻ" nhưng phải hợp lý để "nuôi" tăng trưởng

PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng: Lãi suất không còn "rẻ" nhưng phải hợp lý để "nuôi" tăng trưởng

Thứ Năm, 02/04/2026 - 06:12

Mặt bằng lãi suất tại Việt Nam đang bước vào một chu kỳ mới, khi chi phí vốn không còn duy trì ở mức thấp và áp lực điều hành gia tăng. Trong khi đó, rủi ro địa chính trị kéo dài và nhu cầu vốn trong nước phục hồi, đòi hỏi chính sách tiền tệ phải đồng thời cân bằng giữa hỗ trợ tăng trưởng, kiểm soát lạm phát và bảo đảm ổn định hệ thống tài chính.

Trao đổi với Reatimes, PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân đã có những phân tích về chu kỳ lãi suất, áp lực điều hành và những lựa chọn chính sách đặt ra trong giai đoạn tới.

Thời kỳ "tiền rẻ" đã qua, chi phí vốn đang định hình lại

- Thưa PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng, nhìn lại từ sau Covid-19 đến nay, ông có thể mô tả lại bức tranh lãi suất ở Việt Nam?

PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng: Có thể thấy diễn biến lãi suất tại Việt Nam từ sau Covid-19 đến nay trải qua những cung bậc khá rõ.

Giai đoạn năm 2020 - 2021 là thời kỳ lãi suất giảm sâu để hỗ trợ nền kinh tế vượt qua cú sốc đại dịch. Ngân hàng Nhà nước đã nhiều lần điều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành, tạo điều kiện để các ngân hàng thương mại hạ lãi suất cho vay, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân phục hồi sản xuất kinh doanh. Đây có thể xem là giai đoạn "tiền rẻ" với chi phí vốn ở mức thấp trong nhiều năm.

Sang năm 2022, lãi suất đảo chiều, đặc biệt từ quý III, dưới tác động từ việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) liên tục nâng lãi suất và áp lực lạm phát toàn cầu gia tăng. Trong nước, để ổn định tỷ giá và kiểm soát lạm phát nhập khẩu, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh tăng lãi suất điều hành. Đỉnh điểm, lãi suất huy động vượt 10%/năm vào tháng 12/2022, trong khi lãi suất cho vay trong khoảng 12,5 - 15%/năm, tạo áp lực lớn lên chi phí vốn của nền kinh tế.

Bước sang năm 2023, chính sách tiền tệ chuyển hướng sang hỗ trợ tăng trưởng. Ngân hàng Nhà nước đã 4 lần giảm lãi suất điều hành trong năm 2023, qua đó kéo mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường giảm mạnh so với mức đỉnh cuối năm 2022, phổ biến thấp hơn khoảng 2 - 3 điểm phần trăm tùy kỳ hạn và từng ngân hàng.

PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng: Lãi suất không còn "rẻ" nhưng phải hợp lý để "nuôi" tăng trưởng- Ảnh 1.

PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân. (Ảnh: Phạm Hùng)

Trong năm 2024, mặt bằng lãi suất thấp tiếp tục được duy trì trong phần lớn thời gian nhằm hỗ trợ phục hồi kinh tế và thúc đẩy tín dụng. Tuy nhiên, sau giai đoạn giảm năm 2023, dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ dần thu hẹp khi áp lực tỷ giá gia tăng, lạm phát cơ bản vẫn duy trì ở mức tương đối cao và nhu cầu vốn của nền kinh tế bắt đầu phục hồi.

Sang năm 2025, lãi suất nhích tăng trở lại, rõ hơn từ giữa năm. Lãi suất huy động phổ biến khoảng 3,5 - 6,5%/năm, trong khi lãi suất cho vay ở mức 6,5 - 9,0%/năm, tùy đối tượng.

Xu hướng này chủ yếu do áp lực thanh khoản khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động, cùng với tác động từ tỷ giá và lãi suất quốc tế. Các ngân hàng, đặc biệt là khối tư nhân tăng lãi suất huy động để hút vốn, qua đó tạo áp lực lên chi phí vay.

- Thưa ông, trong bối cảnh mặt bằng lãi suất toàn cầu còn duy trì ở mức cao, lãi suất huy động và cho vay trong nước đang tăng trở lại và nhu cầu vốn cho nền kinh tế ngày càng lớn, ông đánh giá như thế nào về những áp lực đang đặt lên vai nhà điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện nay?

PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng: Có thể thấy, chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện nay đang chịu tác động đồng thời từ cả tình hình quốc tế và nội tại nền kinh tế.

Ở bên ngoài, mặt bằng lãi suất quốc tế, đặc biệt là lãi suất USD, vẫn duy trì ở mức cao và quá trình điều chỉnh giảm diễn ra thận trọng. Nguyên nhân không chỉ đến từ lạm phát, mà còn do những bất ổn địa chính trị, nhất là căng thẳng tại Trung Đông, có thể ảnh hưởng đến nguồn cung năng lượng và chuỗi vận tải toàn cầu. Những yếu tố này làm gia tăng chi phí năng lượng, logistics và kéo theo áp lực lạm phát, khiến các ngân hàng trung ương lớn phải duy trì chính sách tiền tệ thận trọng lâu hơn. Vì vậy, mặt bằng lãi suất quốc tế khó giảm nhanh trong ngắn hạn.

Đối với Việt Nam, các tác động này truyền dẫn qua kênh tỷ giá, dòng vốn và kỳ vọng lạm phát, qua đó thu hẹp dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ. Điều này buộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải điều hành thận trọng hơn, đặc biệt trong việc cân nhắc thời điểm và mức độ điều chỉnh lãi suất.

Ở trong nước, lãi suất huy động có xu hướng nhích lên, chủ yếu phản ánh áp lực thanh khoản khi tăng trưởng tín dụng cao hơn tốc độ huy động, làm gia tăng nhu cầu cân đối vốn trong hệ thống ngân hàng. Để cân bằng, các tổ chức tín dụng, nhất là ở kỳ hạn trung và dài hạn, buộc phải điều chỉnh tăng lãi suất huy động nhằm thu hút vốn.

Trong khi đó, nhu cầu vốn của nền kinh tế để phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao, đặc biệt cho đầu tư công, hạ tầng và sản xuất tiếp tục ở mức cao, càng làm gia tăng áp lực lên hệ thống ngân hàng. Khi chi phí huy động vốn tăng, dư địa để giảm lãi suất cho vay sẽ bị thu hẹp, trong khi các tổ chức tín dụng vẫn phải bảo đảm an toàn hệ thống.

Vì vậy, bài toán đặt ra cho nhà điều hành hiện nay rất khó khăn, vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa phải cân bằng giữa ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tỷ giá và an toàn hệ thống tài chính trong một bối cảnh hết sức biến động và khó lường.

Chính sách tiền tệ cần hỗ trợ cho nền kinh tế đang đà vươn lên 

- Dựa trên tình hình chung của khu vực, thế giới và các định hướng lớn của Nhà nước, ông nhìn nhận xu hướng điều hành lãi suất của Việt Nam trong năm 2026 ra sao?

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Năm 2026, Ngân hàng Nhà nước dự kiến tăng trưởng tín dụng khoảng 15%, thấp hơn so với mức 16% của năm 2025. Chứng tỏ nhà điều hành muốn duy trì tăng trưởng tín dụng ổn định chứ không quá mở rộng.

Tất nhiên, ổn định luôn là mục tiêu mang tính nền tảng và lâu dài, nhưng nhìn vào yêu cầu tăng trưởng cao, tôi cho là chính sách lãi suất sẽ phải ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng nhiều hơn, bảo đảm nền kinh tế có đủ "nhiên liệu" để tăng tốc cho mục tiêu "hai con số".

Hiện nền kinh tế đang có đà vươn lên rất mạnh, nếu chính sách tiền tệ thắt chặt, thì chúng ta lỡ mất cơ hội đạt mục tiêu tăng trưởng cao. Nên tôi kỳ vọng rằng, 6 tháng đầu năm 2026, chúng ta sẽ cố gắng ổn định được nền kinh tế trước các "cú sốc" từ bên ngoài, tăng trưởng tín dụng ở mức 15%. Nhưng bước sang tháng 6 - 7/2026, khi các yếu tố đã ổn định và đi vào chiều sâu, nền kinh tế có sức chống chịu cao hơn, thì dư địa chính sách sẽ cho phép việc điều hành lãi suất ưu tiên tăng trưởng, để tạo đà tăng trưởng giai đoạn cuối năm và trong năm sau. Đặc biệt trước mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số đã đặt ra và để không rơi vào bẫy thu nhập trung bình, tôi cho rằng chính sách tiền tệ sẽ buộc phải linh hoạt hơn.

- Như ông chia sẻ, chính sách lãi suất sẽ không vận hành theo một "kịch bản cứng", mà được điều hành linh hoạt, bám sát diễn biến thực tế của nền kinh tế và các mục tiêu vĩ mô đặt ra. Theo ông, giai đoạn lãi suất thấp như 2020 - 2021 liệu có cơ hội quay trở lại không?

PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng: Như đã trao đổi, trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao, áp lực điều hành chính sách tiền tệ sẽ ngày càng rõ nét. Điều này đồng nghĩa lãi suất sẽ phải tiếp tục được điều chỉnh theo hướng hỗ trợ nền kinh tế.

Nếu chính sách tiền tệ bị thắt chặt quá mức, sẽ tạo ra độ trễ và lực cản đối với hoạt động đầu tư - sản xuất - kinh doanh. Khi chi phí vốn tăng lên, khả năng tiếp cận tín dụng bị thu hẹp, doanh nghiệp gặp khó khăn trong mở rộng đầu tư, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng và việc thực hiện các mục tiêu kinh tế đã đề ra.

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng mục tiêu không chỉ là tăng trưởng ngắn hạn, mà là duy trì một quỹ đạo tăng trưởng cao và bền vững trong trung hạn, đối với Việt Nam là mục tiêu từ nay đến năm 2030. Vì vậy, mặt bằng lãi suất trong thời gian tới cần được điều hành theo hướng cân bằng giữa hai yêu cầu: Vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô.

Cũng không loại trừ khả năng lãi suất có thể quay trở lại mức thấp như giai đoạn 2020 - 2021, bởi lãi suất mang tính chu kỳ. Tuy nhiên, mức độ giảm đến đâu sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Khả năng hấp thụ và hiệu quả sử dụng vốn của của nền kinh tế, nhu cầu vốn của thị trường, cũng như diễn biến của các thị trường liên quan như lao động, vốn, hàng hóa và dịch vụ. 

Bên cạnh đó, chúng ta cần đẩy mạnh nguồn lực cho khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đó là những động lực tăng trưởng mới nên tôi cho là chính sách tiền tệ thời gian tới sẽ phải mở rộng hơn. Nếu không kịp thời thúc đẩy các yếu tố này, nền kinh tế có nguy cơ bị chậm nhịp, thậm chí tụt lại phía sau trong cuộc cạnh tranh phát triển.

Do đó, điều hành chính sách không nên rơi vào trạng thái quá thận trọng, bị chi phối bởi tâm lý e ngại rủi ro hay lạm phát một cách cực đoan. Thậm chí, theo tôi, trong một nền kinh tế đang trên đà tăng trưởng, việc chấp nhận mức độ rủi ro hợp lý để đổi lấy động lực phát triển là cần thiết.

- Việc điều hành chính sách tiền tệ nới lỏng trong thời điểm này có thể phát sinh những rủi ro như thế nào, thưa ông?

PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng: Chúng ta muốn "làm lớn" thì phải "chi lớn". Vấn đề là nới lỏng chính sách tiền tệ như thế nào. Nếu có cơ chế giám sát hiệu quả, kế hoạch rõ ràng và kỷ luật thực thi tốt, thì tôi tin chúng ta hoàn toàn có thể kiểm soát được rủi ro.

Ngược lại, nếu quá thận trọng, bị chi phối bởi tâm lý sợ sai, sợ rủi ro, thì chính điều đó lại khiến chính sách thiếu quyết đoán, không dám "mở", không dám hành động đủ mạnh. Khi đó, mục tiêu tăng trưởng cao gần như không thể đạt được.

Cơ hội tăng trưởng xuất hiện rất nhanh và đòi hỏi chính sách phải đủ linh hoạt để "đón đầu". Nếu quá chậm trễ hoặc quá thận trọng, nền kinh tế có thể bỏ lỡ những thời điểm "tăng tốc" quan trọng.
PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng: Lãi suất không còn "rẻ" nhưng phải hợp lý để "nuôi" tăng trưởng- Ảnh 2.PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng

Như tôi đã đề cập, bản chất của tăng trưởng là phải có đầu tư, có tầm nhìn và chấp nhận một mức độ rủi ro nhất định. Nhìn ra thế giới, những nền kinh tế muốn bứt phá đều phải sẵn sàng đầu tư lớn cho khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và các lĩnh vực nền tảng. Nếu không đi cùng một nhịp, nền kinh tế rất dễ rơi vào trạng thái lúng túng, thiếu định hướng và khó xây dựng được các kế hoạch dài hạn hiệu quả.

Do đó, trong trung và dài hạn (3 - 5 năm tới), chính sách tiền tệ, bao gồm cả chính sách lãi suất vẫn phải được điều hành theo hướng nới lỏng theo chu kỳ, hỗ trợ tăng trưởng. Tất nhiên, đó là sự nới lỏng có kiểm soát, đi kèm với cơ chế giám sát chặt chẽ, nhằm vừa tạo động lực phát triển, vừa giữ được ổn định vĩ mô.

Quan trọng hơn, điều hành chính sách cần có một tầm nhìn xuyên suốt, thấy bản chất vận động của nền kinh tế Việt Nam. Nhiều khi cơ hội tăng trưởng xuất hiện rất nhanh và đòi hỏi chính sách phải đủ linh hoạt để "đón đầu". Nếu quá chậm trễ hoặc quá thận trọng, nền kinh tế có thể bỏ lỡ những thời điểm "tăng tốc" quan trọng.

"Về nguyên tắc, dòng vốn luôn tìm đến nơi tạo ra hiệu quả"

- Với chỉ đạo hướng dòng vốn vào khu vực sản xuất - kinh doanh, từ đầu năm 2026, một số ngân hàng đã điều chỉnh tăng lãi suất cho vay bất động sản, gắn với yêu cầu kiểm soát tăng trưởng tín dụng theo Chỉ thị 01/CT-NHNN. Ông đánh giá như thế nào về động thái này?

PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng: Ở góc độ chính sách, việc Chính phủ định hướng "điều chuyển" dòng vốn, tránh tình trạng dồn quá nhiều nguồn lực vào bất động sản là có cơ sở. Bởi thực tế đã cho thấy, khi một lĩnh vực tăng trưởng quá nóng, chi phí điều chỉnh sau đó thường rất lớn. Bong bóng tài sản, nợ xấu và bất ổn hệ thống đều có thể xảy ra. Những bài học từ các giai đoạn trước chính là tín hiệu cảnh báo.

Nhưng tôi cho là trong thực tiễn khó mà ưu tiên dòng tiền vào sản xuất - kinh doanh một cách cơ học, nếu bản thân các lĩnh vực đó chưa đủ hấp dẫn về lợi nhuận hoặc chưa có dự án khả thi.

Thực tế, doanh nghiệp sẽ không đầu tư vào những ngành mà khả năng sinh lời thấp hoặc rủi ro cao. Kể cả những lĩnh vực như công nghệ cao, bán dẫn… dù được khuyến khích nhưng năng lực nội tại của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn còn hạn chế, khó có thể đổ vốn lớn ngay lập tức để cạnh tranh với các tập đoàn toàn cầu.

Tất nhiên, vẫn có một số tập đoàn lớn nhận diện được xu hướng, mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực mới, các dự án quy mô lớn, tạo động lực cho tăng trưởng dài hạn. Đây là hướng đi tích cực.

Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam vẫn là doanh nghiệp nhỏ và vừa, với năng lực tài chính, công nghệ và nhân sự còn hạn chế. Với nhóm này, việc đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao hay tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu không phải là câu chuyện có thể thực hiện trong ngắn hạn. Ngay cả khi định hướng chính sách là đúng, thì khả năng "hấp thụ vốn" của khu vực doanh nghiệp vẫn là vấn đề cần phải xét đến.

Trong bối cảnh đó, bất động sản vẫn là một lĩnh vực tạo ra giá trị kinh tế và có sức hút nhất định. Vì vậy, việc dòng vốn bị "co hẹp" không có nghĩa là bị triệt tiêu hoàn toàn, mà là đang trong quá trình sàng lọc dự án thuộc các phân khúc ưu tiên, pháp lý rõ ràng, doanh nghiệp có nền tảng tài chính tốt.

- Như vậy, có thể đúc kết rằng định hướng dòng vốn chảy vào sản xuất - kinh doanh là đúng, nhưng quyết định cuối cùng vẫn nằm ở nội lực của thị trường, đặc biệt là khối doanh nghiệp?

PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng: Đúng là như vậy. Chúng ta phải cải thiện được môi trường đầu tư, nâng cao năng lực sản xuất hơn nữa thì dòng vốn mới có thể chủ động chảy vào khu vực sản xuất như kỳ vọng được. Tức là khi các điều kiện chín muồi, dòng vốn sẽ tự điều chỉnh mà không cần quá nhiều biện pháp hành chính.

Do đó, nếu áp dụng một cách cứng nhắc định hướng tín dụng phải chảy vào sản xuất - kinh doanh, có thể dẫn đến nghịch lý: Khu vực được ưu tiên thì chưa đủ khả năng hấp thụ vốn, trong khi những lĩnh vực có nhu cầu lại bị hạn chế.

Vì vậy, tôi cho rằng cần có một cách tiếp cận linh hoạt và thực tế hơn. Sản xuất - kinh doanh vẫn là hướng đi cốt lõi, đặc biệt là các ngành có giá trị gia tăng cao, gắn với công nghệ và chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhưng việc phân bổ vốn phải dựa trên nhiều yếu tố: Năng lực nội tại của doanh nghiệp, giai đoạn phát triển, điều kiện thị trường và hiệu quả dự án cụ thể. Nếu thị trường đang dư thừa một số sản phẩm, thì việc tiếp tục đổ vốn vào sản xuất cũng không mang lại hiệu quả, thậm chí còn làm gia tăng rủi ro.

Nói cách khác, định hướng là cần thiết, nhưng việc điều hành phải linh hoạt, không thể áp dụng một cách cơ học. Dòng vốn chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được phân bổ đúng chỗ, đúng thời điểm và phù hợp với năng lực thực tế của từng lĩnh vực.

Đi tìm điểm cân bằng

- Nhìn tổng thể, hai công cụ quan trọng của nền kinh tế Việt Nam hiện nay là chính sách tài khoá và tiền tệ phải tìm được "điểm cân bằng" như thế nào, đặc biệt trong điều tiết thị trường bất động sản, thưa ông?

PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng: Chính sách tài khóa và tiền tệ cần phối hợp nhịp nhàng, chứ không phải đi theo hai hướng ngược nhau. Không có phương án nào là tối ưu tuyệt đối, nhưng điều quan trọng là chấp nhận một mức độ rủi ro hợp lý để đổi lấy tăng trưởng và sự vận hành thông suốt của thị trường.

Thực tiễn quốc tế cũng cho thấy, trong giai đoạn các nền kinh tế tăng trưởng nhanh, bất động sản thường có xu hướng tăng mạnh. Đây gần như là một quy luật. Các trường hợp như Hong Kong, Tokyo hay Hàn Quốc đều từng trải qua chu kỳ bất động sản tăng nóng song hành với quá trình "cất cánh" của nền kinh tế.

Trong bối cảnh Việt Nam đang ở giai đoạn chuyển mình, nền kinh tế phát triển nhanh, một số lĩnh vực, trong đó có bất động sản, nổi lên như động lực tạo giá trị. Nếu vừa "ghìm" lĩnh vực đang có động lực, vừa kỳ vọng các lĩnh vực khác bứt lên thay thế trong khi chưa đủ điều kiện, thì rủi ro là cả hai phía đều không đạt được kết quả.

PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng: Lãi suất không còn "rẻ" nhưng phải hợp lý để "nuôi" tăng trưởng- Ảnh 3.

Chính sách nên hướng dòng vốn vào những phân khúc bất động sản lành mạnh. (Ảnh minh hoạ: Trọng Hiếu)

Vai trò của nhà hoạch định chính sách là dẫn dắt. Thị trường nào đang phát triển, có khả năng tạo giá trị, cần được tạo không gian để vận hành trong một ngưỡng hợp lý. Khi đạt đến ngưỡng đó, quá trình điều chỉnh và chuyển dịch nguồn lực sang các lĩnh vực khác sẽ diễn ra tự nhiên hơn. Mặt khác, bất động sản vẫn là kênh đầu tư được ưa chuộng bởi tính hữu hình và khả năng sinh lời trong dài hạn. Đây là tâm lý khó thay đổi trong ngắn hạn. Vì vậy, chính sách nên hướng dòng vốn vào những phân khúc lành mạnh, có giá trị thực, hạn chế rủi ro đầu cơ quá mức.

Quan trọng hơn, nền kinh tế Việt Nam vẫn đang trong quá trình "thử nghiệm" và hoàn thiện thể chế, đòi hỏi tư duy điều hành phải linh hoạt, dám thử, dám điều chỉnh, chứ không phải co lại vì sợ rủi ro. Nếu quá thận trọng, không dám hành động, thì rất khó tạo ra những bước chuyển mang tính đột phá. Phải làm sao để chính sách đủ "mở" để nuôi dưỡng động lực tăng trưởng, nhưng cũng đủ chặt chẽ để kiểm soát rủi ro, đó mới là điểm cân bằng. Để làm được điều đó, cần rất nhiều tài năng, tâm huyết, sự khéo léo của nhà quản lý, điều hành.

- Thưa chuyên gia, hiện nhiều doanh nghiệp bất động sản phản ánh chi phí vốn đang tăng mạnh, khiến họ buộc phải điều chỉnh giá bán cao hơn. Mặt khác, để kích cầu trong bối cảnh thanh khoản đang sụt giảm, cuộc canh tranh về ưu đãi và chính sách bán hàng giữa các chủ đầu tư càng trở nên gay gắt. Ông đánh giá thế nào về thế "tiến thoái lưỡng nan" của doanh nghiệp bất động sản hiện nay?

PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng: Có thể nói, doanh nghiệp bất động sản hiện nay đang chịu sức ép lớn đến từ hai phía. Một mặt, chi phí vốn tăng lên do lãi suất cao, trong khi tín dụng bị kiểm soát chặt khiến khả năng tiếp cận vốn hạn chế. Điều này buộc doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô, giãn tiến độ dự án, thậm chí tạm dừng một số kế hoạch đầu tư. Mặt khác, để bù đắp chi phí vốn và duy trì dòng tiền, doanh nghiệp có xu hướng điều chỉnh giá bán theo hướng tăng. 

Nhưng nghịch lý ở chỗ, khi giá tăng thì thanh khoản lại suy giảm do sức mua yếu, đặc biệt trong bối cảnh thu nhập người dân chưa phục hồi tương xứng. Kết quả là thị trường rơi vào trạng thái "giá cao - giao dịch thấp".

Thế khó này không chỉ đến từ nội tại doanh nghiệp, mà còn phản ánh sự thiếu đồng bộ trong điều hành chính sách: Vừa yêu cầu kiểm soát tín dụng; vừa đặt ra mục tiêu phát triển và ổn định thị trường. Khi các mục tiêu chưa đồng bộ, doanh nghiệp sẽ bị "kẹp giữa" hai chiều chính sách.

- Để doanh nghiệp thoát khỏi thế khó này, phải chẳng cần một cách tiếp cận thực tế hơn, thưa ông?

PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng: Theo tôi, cần triển khai nhanh và đồng bộ các giải pháp sau. Thứ nhất, đánh giá lại cấu trúc nền kinh tế để xác định rõ những lĩnh vực có khả năng sinh lợi và hấp thụ vốn tốt trong từng giai đoạn.

Thứ hai, với bất động sản, cần phân loại rõ: Tiếp tục kiểm soát đầu cơ, nhưng mở dòng vốn cho các dự án có nhu cầu thực, pháp lý rõ ràng, đặc biệt là nhà ở xã hội, bất động sản công nghiệp hay phân khúc nhà ở vừa túi tiền.

Thực tế, những phân khúc gắn với động lực phát triển mới như bất động sản công nghiệp, logistics, hạ tầng trọng điểm (sân bay, cao tốc…) vẫn có dư địa tăng trưởng tốt. Các dự án như khu công nghiệp quanh sân bay Long Thành là ví dụ điển hình khi đã mở ra cơ hội phát triển gắn sản xuất, vận chuyển với chuỗi giá trị.

Những phân khúc gắn với động lực phát triển mới như bất động sản công nghiệp, logistics, hạ tầng trọng điểm (sân bay, cao tốc…) vẫn có dư địa tăng trưởng tốt. Các dự án như khu công nghiệp quanh sân bay Long Thành là ví dụ điển hình khi đã mở ra cơ hội phát triển gắn sản xuất, vận chuyển với chuỗi giá trị.
PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng: Lãi suất không còn "rẻ" nhưng phải hợp lý để "nuôi" tăng trưởng- Ảnh 4.PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng

Thứ ba, tăng tính đồng bộ giữa chính sách tiền tệ và tài khóa, tránh tình trạng nới lỏng chính sách tài khoá, nhưng lại kiểm soát chính sách tiền tệ cùng lúc. Điển hình, hiện nay khi lãi suất đã tăng cao, muốn phát triển nhà ở thương mại mà vẫn đảm bảo khả năng tiếp cận của người dân là rất khó nếu không có cơ chế hỗ trợ. Nhà nước đang xây dựng và triển khai các chính sách ưu đãi cho người dân, đó là chính sách tài khóa. Nhưng nếu chính sách tiền tệ vẫn thắt chặt, lãi suất cao thì khó đạt được mục tiêu an sinh. Bởi lẽ, mặt bằng lãi suất cũng phải phù hợp mới tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển dự án với chi phí vốn tối ưu, và người dân cũng có thể tiếp cận được  vốn vay.

- Xin cảm ơn những chia sẻ tâm huyết và góc nhìn đa chiều của ông!

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Thương hiệu dẫn đầu

Lên đầu trang
Top