Aa

Quyết liệt xử lý dứt điểm hàng nghìn dự án tồn đọng kéo dài: Kích hoạt nguồn lực cho tăng trưởng

Thứ Năm, 16/04/2026 - 15:15

Hơn 3,3 triệu tỷ đồng vốn đầu tư “mắc kẹt” tại hàng nghìn dự án tồn đọng đang đòi hỏi những giải pháp quyết liệt và kịp thời để khơi thông nguồn lực đưa nền kinh tế bứt tốc, tránh lãng phí kéo dài, đồng thời phục hồi niềm tin thị trường.

Những “điểm nghẽn” làm ách tắc dòng chảy kinh tế quốc gia

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang nỗ lực bứt tốc để bước vào một giai đoạn phát triển mới, quyết tâm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số không còn là một khẩu hiệu mang tính khích lệ, mà đã trở thành một đòi hỏi thực chất đối với năng lực vận hành của toàn bộ nền kinh tế. Khi yêu cầu này được đặt ra ở cấp chiến lược cũng đồng nghĩa với việc, mọi nguồn lực đang bị ách tắc, bị sử dụng kém hiệu quả, hoặc nằm ngoài vòng quay tăng trưởng đều phải được nhìn nhận lại như những điểm nghẽn cần xử lý khẩn cấp.

Ngày 10/4, phát biểu thảo luận ở tổ tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh phải giải quyết dứt điểm hàng nghìn dự án đang tồn đọng, vướng mắc về đất đai, nguồn vốn, kể cả các dự án năng lượng tái tạo. "Trước khi chúng ta nói đến các động lực tăng trưởng mới, thì nguồn lực rất lớn đang tồn đọng tại các dự án. Nếu khơi thông được, đây sẽ là nguồn lực rất lớn đóng góp vào tăng trưởng", Thủ tướng nói.

Quyết liệt xử lý dứt điểm hàng nghìn dự án tồn đọng kéo dài: Kích hoạt nguồn lực cho tăng trưởng- Ảnh 1.

Thủ tướng Lê Minh Hưng phát biểu thảo luận ở tổ tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI. (Ảnh: TTXVN)

Tập trung tháo gỡ các dự án tồn đọng cũng là một trong những nội dung trọng tâm được thảo luận tại cuộc họp đầu tiên (ngày 9/4) của Thường trực Đảng ủy Chính phủ và Thường trực Chính phủ, ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ, các phó thủ tướng, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ của Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031 được bầu, phê chuẩn, bổ nhiệm. Điều này cho thấy, Chính phủ xác định đây là một trong những vấn đề cấp bách cần giải quyết triệt để nhằm tạo nền tảng hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số.

Theo số liệu thống kê mới nhất của Bộ Tài chính, hiện cả nước hiện có 4.489 dự án và diện tích đất đai đang rơi vào tình trạng vướng mắc, khó khăn kéo dài. Tổng mức đầu tư của các dự án này ghi nhận con số khổng lồ, lên tới hơn 3,3 triệu tỷ đồng.

Các dự án tồn đọng trải dài trên nhiều lĩnh vực trọng yếu, tạo thành những “điểm nghẽn” khổng lồ làm ách tắc dòng chảy kinh tế quốc gia. Trong đó, đáng chú ý là lĩnh vực bất động sản, nhà ở, đô thị; các dự án năng lượng tái tạo (điện mặt trời, điện gió) vướng mắc pháp lý sau giai đoạn phát triển nóng…

Các chuyên gia đánh giá, nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên vô cùng phức tạp, nhưng cốt lõi nằm ở sự chồng chéo của hệ thống pháp luật. Chia sẻ với Reatimes, Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI lý giải: “Các dự án quy mô lớn luôn chịu sự chi phối cùng lúc của nhiều đạo luật then chốt như Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch... Tuy nhiên, sự thiếu đồng bộ giữa các luật này trong suốt một thời gian dài đã tạo ra vô số ‘nút thắt cổ chai’ trong quá trình triển khai”.

Quyết liệt xử lý dứt điểm hàng nghìn dự án tồn đọng kéo dài: Kích hoạt nguồn lực cho tăng trưởng- Ảnh 2.

Luật sư Trương Thanh Đức.

Thêm vào đó, hệ thống pháp luật trước đây lại thiếu vắng một cơ chế dứt khoát để dừng, thu hồi hoặc chấm dứt các dự án không có khả năng triển khai hoặc có sai phạm khiến chúng không thể tiến cũng không thể lùi, đành rơi vào trạng thái án binh bất động.

Xét về bản chất, mục đích của việc xử lý sai phạm tại các dự án là để bảo vệ và thu hồi tài sản cho Nhà nước. Thế nhưng, trong thực tiễn, quá trình xử lý kéo dài khiến cho các công trình ngày càng xuống cấp không thể cứu vãn, trong khi những mảnh đất bỏ hoang không tạo ra giá trị sử dụng. Nếu kiên quyết xử lý sai phạm một cách cứng nhắc, triệt để như thu hồi đất, đập bỏ công trình thì khối lượng tài sản của Nhà nước và toàn xã hội bị bốc hơi một cách lãng phí. Ngược lại, nếu linh hoạt cho phép các dự án tiếp tục được triển khai, đi vào hoạt động thì vấp phải nguy cơ “hợp thức hóa cho sai phạm”.

Nghịch lý “tiến thoái lưỡng nan” này đã tạo ra áp lực vô hình lên ý chí của bộ máy thực thi. Phân tích sự đình trệ này, luật sư Trương Thanh Đức nhận định: “Chính vì chưa có cơ chế xử lý rõ ràng, không loại trừ việc bộ máy quản lý nảy sinh tâm lý sợ sai, đùn đẩy và né tránh. Thà để những công trình nghìn tỷ phơi mưa nắng còn hơn tìm cách tháo gỡ, bởi ranh giới giữa việc ‘đột phá vì lợi ích chung’ và ‘cố ý làm trái, tiếp tay cho sai phạm’ trong bối cảnh pháp lý trước đây quá mong manh”.

Phân tích hệ lụy, GS.TS. Hoàng Văn Cường, nguyên Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, nguyên Phó Hiệu trưởng Đại học Kinh tế Quốc dân từng nhấn mạnh, trên thực tế, những khu vực đất đai, hay công trình bị bỏ hoang, không được khai thác hay sử dụng đúng mục đích lại thường là những khu "đất vàng" - khu vực có vị trí đắc địa với giá trị cao. Nếu những khu đất này được đầu tư và phát triển bài bản không chỉ mang lại lợi ích từ dự án mà còn tạo nên chuỗi giá trị lan tỏa như thúc đẩy tạo việc làm, cải thiện hạ tầng và kích thích các hoạt động kinh tế - xã hội trong khu vực phát triển.

Ví dụ, khi đầu tư vào một khu công nghiệp, sự phát triển của khu vực này sẽ kéo theo hàng loạt dự án liên quan như nhà ở cho công nhân, kho bãi lưu trữ sản phẩm và các ngành công nghiệp phụ trợ khác. Nhưng khi những khu vực này bị bỏ hoang, không được khai thác đúng tiềm năng, không chỉ làm gián đoạn dòng chảy đầu tư mà còn gây ra hiệu ứng kìm hãm sự phát triển của toàn khu vực. Các hoạt động kinh tế liên quan sẽ bị đình trệ, tiềm năng phát triển của khu vực cũng bị "đóng băng", gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc phát triển bền vững và tạo dựng động lực tăng trưởng.

Quyết liệt xử lý dứt điểm hàng nghìn dự án tồn đọng kéo dài: Kích hoạt nguồn lực cho tăng trưởng- Ảnh 3.

Dự án Khu đô thị mới Thịnh Liệt (Hà Nội) "án binh bất động" do vướng mắc giải phóng mặt bằng. (Ảnh: Duy Thế)

Ngoài ra, tình trạng lãng phí đất còn gây ra những tổn thất nghiêm trọng về vốn đầu tư. Các khu đất hoang hóa, các dự án dang dở sẽ khiến lượng tiền lớn của nhà đầu tư, ngân sách Nhà nước và thậm chí cả vốn đóng góp từ người dân bị "chôn vùi". Điều này tạo ra áp lực nặng nề lên nền kinh tế, cản trở việc luân chuyển dòng vốn hiệu quả.

“Các dự án treo, chậm tiến độ hoặc "án binh bất động", triển khai hàng thập kỷ chưa xong, nhưng cũng không bị thu hồi hay xử lý triệt để là một trong những rào cản lớn có thể ảnh hưởng đến khả năng hiện thực hóa các mục tiêu, khát vọng 2045 về một quốc gia phát triển, thu nhập cao của Việt Nam”, GS.TS. Hoàng Văn Cường đánh giá.

Quyết liệt xử lý dứt điểm hàng nghìn dự án tồn đọng kéo dài: Kích hoạt nguồn lực cho tăng trưởng- Ảnh 4.

GS.TS. Hoàng Văn Cường.

Phân loại dự án để linh hoạt xử lý, gỡ vướng triệt để

Trên thực tế, từ giai đoạn 2024 - 2025, các động thái của Trung ương đã cho thấy sự quyết liệt trong việc khơi thông các dự án tồn đọng. Đặc biệt, Chính phủ đã thành lập Ban Chỉ đạo 751 để tổng rà soát toàn bộ các dự án tồn đọng trên phạm vi cả nước, chuẩn hóa việc rà soát, phân loại, xác định thẩm quyền, phương án giải quyết và cập nhật kết quả xử lý.

Cùng với đó, nhiều chủ trương, giải pháp đã được ban hành nhằm tháo gỡ vướng mắc, với mục tiêu giải phóng nguồn lực cho phát triển, tạo việc làm và cải thiện môi trường đầu tư. Đồng thời, các chỉ đạo cũng nhấn mạnh việc khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; kiên quyết xử lý các hành vi trục lợi, tham nhũng, song song với việc tháo gỡ khó khăn về thủ tục để các dự án có thể tiếp tục triển khai.

Đối với nhóm dự án, đất đai đã có kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại một số địa phương, Quốc hội ban hành Nghị quyết 170/2024/QH15; sau đó tiếp tục có Nghị quyết 265/2025/QH15 để mở rộng phạm vi áp dụng cơ chế đặc thù cho các tình huống pháp lý tương tự trên phạm vi rộng hơn.

Với những nỗ lực đã thực hiện, trong quý I năm 2026, Chính phủ đánh giá đã tháo gỡ được 5.203 dự án, trong đó có 3.289 dự án đất đai, khơi thông khoảng 1,67 triệu tỷ đồng. Đây là tín hiệu tích cực nhất ở tầm vĩ mô. Đặc biệt, Đà Nẵng giải quyết được 1.678/2.035 dự án, Khánh Hòa 55/76, Hà Nội 24/38, còn TP.HCM mới ở mức 2/11 trong nhóm dự án đặc thù. Điều này cho thấy, dù hiệu quả bước đầu đã xuất hiện, quá trình triển khai vẫn còn nhiều khoảng cách.

Thực tế cho thấy, dù nhiều luật quan trọng như Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Đấu thầu cùng với các luật liên quan như Luật Đầu tư, Luật Xây dựng đã được sửa đổi hoặc đang có hiệu lực trong khung pháp lý mới nhưng “thế khó” vẫn chưa được giải quyết ngay lập tức.

Theo luật sư Nguyễn Tiến Lập, Thành viên Văn phòng luật sư NHQuang và Cộng sự, Trọng tài viên Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, khoảng cách giữa quy định pháp luật và thực tiễn luôn tồn tại, khiến nhiều quy định phải tiếp tục điều chỉnh sau khi triển khai; ngay cả khi đã sửa đổi, các chính sách mới vẫn cần một độ trễ nhất định để đi vào cuộc sống.

Quyết liệt xử lý dứt điểm hàng nghìn dự án tồn đọng kéo dài: Kích hoạt nguồn lực cho tăng trưởng- Ảnh 5.

Luật sư Nguyễn Tiến Lập.

Nhìn nhận sâu hơn, luật sư Nguyễn Tiến Lập chỉ ra những quan hệ pháp lý phức tạp phát sinh đối với các dự án còn tồn đọng khiến quá trình xử lý không dễ dàng: “Vấn đề là đối với mỗi dự án đang triển khai, mặc dù bị chậm trễ hay đình trệ thì các mối quan hệ pháp lý đa chiều và phức tạp đã phát sinh. Đó không chỉ là quan hệ của dự án với cơ quan quản lý mà còn quan hệ vay vốn với ngân hàng, quan hệ dân sự với người mua về đặt cọc hay trả trước tiền cho các cam kết về bàn giao sản phẩm, rồi cả quan hệ hợp đồng kinh tế với các nhà thầu xây dựng và cung ứng dịch vụ nữa. Tất cả các mối quan hệ đó đi kèm với các hậu quả phát sinh đều cần phải được xử lý khi đặt vấn đề xử phạt đối với chủ đầu tư hay thu hồi dự án”.

Mặt khác, dù chỉ đạo của Trung ương rất quyết liệt, nhưng khi xuống đến cơ sở, không loại trừ khả năng sức ỳ của bộ máy và sự phức tạp của thực tiễn vẫn có thể là rào cản lớn. “Bộ máy chính quyền mới ở địa phương được sáp nhập, thành lập mới hoặc kiện toàn với nhiều nhân sự mới và trẻ hóa cũng cần có thời gian để làm quen với chức năng, nhiệm vụ, sau đó là việc tìm hiểu các quy định mới của pháp luật để có thể thực thi và đề ra các giải pháp tháo gỡ phù hợp”, luật sư Nguyễn Tiến Lập nhìn nhận.

Đối với những dự án có sai phạm từ phía cơ quan chính quyền, theo luật sư Nguyễn Tiến Lập, các kết luận thanh tra thường đã làm rõ các vấn đề cốt lõi như: Sai phạm nằm ở đâu, cá nhân hoặc tổ chức nào chịu trách nhiệm và hậu quả vật chất gây ra là gì. Trên cơ sở kết luận thanh tra đã rõ ràng như vậy, để dự án có thể tiếp tục được triển khai, cần tách bạch hai khâu xử lý: Xử lý sai phạm đối với các nhân sự liên quan theo thủ tục hành chính hay hình sự và đưa ra các quyết định về áp dụng pháp luật có liên quan để khơi thông, tháo gỡ các điểm nghẽn của dự án.

“Các quyết định này đương nhiên do các lãnh đạo mới của chính quyền ban hành, cho nên đòi hỏi những người lãnh đạo đó phải có nhận thức rõ ràng và bản lĩnh vững vàng đi kèm với quyết tâm lớn, tức sự dũng cảm, không tránh né hay sợ trách nhiệm”, ông Lập nhấn mạnh.

Luật sư Trương Thanh Đức đánh giá, trong bối cảnh này, việc thiết lập một cơ chế đặc biệt, linh hoạt để xử lý dứt điểm các nhóm dự án còn tồn đọng là rất cần thiết. Đối với những dự án có vướng mắc về pháp lý, những sai sót không mang tính cố ý có thể xem xét nới lỏng, hoặc bỏ qua các vướng mắc nhằm khơi thông tiến độ. Những dự án đã triển khai cần được tiếp tục thực hiện, tháo gỡ triệt để vướng mắc để đưa dự án về đích. Với các dự án treo, chưa xây dựng hoặc chưa đi vào vận hành, cần tiến hành rà soát nhanh, phê duyệt theo cơ chế linh hoạt, sau đó thực hiện hậu kiểm để bảo đảm kiểm soát rủi ro. Đối với các dự án có sai phạm liên quan đến tham ô, tham nhũng, cố tình gây ra hậu quả thì cần xử lý nghiêm chỉnh.

Song song với đó, ông Đức cho rằng, cần xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, cá nhân liên quan, tránh tình trạng đùn đẩy, né tránh. Đồng thời, cần cân nhắc giảm rủi ro trách nhiệm đối với cán bộ khi họ hành động vì lợi ích chung, không vụ lợi. Nếu không có cơ chế bảo vệ phù hợp, tâm lý e ngại sẽ khiến cán bộ không dám đưa ra quyết định, từ đó kéo dài tình trạng ách tắc và làm suy giảm hiệu quả vận hành của hệ thống.

GS.TS. Hoàng Văn Cường cũng nhìn nhận, trong quá trình sử dụng đất đai và xây dựng công trình, việc phát sinh các sai phạm không đúng quy định, quy hoạch, tiêu chuẩn, mốc giới hoặc chức năng quy hoạch không gian là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, cách xử lý các sai phạm này cần được cân nhắc cẩn trọng để vừa đảm bảo tính pháp lý, vừa không gây lãng phí nguồn lực.

Theo ông, với những công trình sai phạm nhưng không làm thay đổi tính chất, điều kiện phát triển của khu vực, có thể xem xét điều chỉnh quy hoạch để phù hợp hơn và tiếp tục triển khai. Điều này giúp tận dụng hiệu quả tài sản đã đầu tư mà không nhất thiết phải phá dỡ công trình. Tuy nhiên, chuyên gia nhấn mạnh, chúng ta vẫn phải đứng trên quan điểm “không hợp thức hóa sai phạm”. Nếu bản thân những công trình, dự án đó đã được xác định là sai phạm thì phải xử lý, quy trách nhiệm.

Một giải pháp khả thi theo GS.TS. Hoàng Văn Cường là thu hồi công trình để xung vào công quỹ, đảm bảo không gây lãng phí tài sản và tạo lợi ích chung cho cộng đồng. Trong trường hợp này, những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm sẽ không được hưởng bất kỳ quyền lợi nào từ công trình bị thu hồi, qua đó tăng cường tính răn đe và trách nhiệm trong việc tuân thủ pháp luật.

“Nhìn chung, việc xử lý sai phạm trong sử dụng đất đai và xây dựng cần được thực hiện quyết liệt nhưng linh hoạt, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật song song với việc tối ưu hóa nguồn lực cho xã hội. Với những công trình vi phạm mà không thể điều chỉnh quy hoạch để tồn tại vì ảnh hưởng nghiêm trọng đến không gian phát triển, công năng sử dụng, hoặc môi trường chung, cần phải có biện pháp xử lý quyết liệt và triệt để để bảo vệ lợi ích công cộng. Trong trường hợp này, việc phá dỡ là cần thiết và bắt buộc”, GS.TS. Hoàng Văn Cường nhấn mạnh.

Tại các cuộc họp gần đây, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã có chỉ đạo các bộ ngành nghiên cứu, báo cáo Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Nghị quyết 170 để xử lý những dự án tồn đọng về đất đai và quyết tâm trong quý II năm nay phải hoàn thành các phương án xử lý dứt điểm. Bên cạnh việc xây dựng cơ chế tháo gỡ, cần có cơ chế giám sát chặt chẽ để đảm bảo tính công bằng, minh bạch, tránh việc trục lợi chính sách.

Thời gian tới, Chính phủ sẽ tiếp tục tập trung xử lý triệt để các dự án vướng mắc kéo dài theo thẩm quyền và đề xuất phương án xử lý đối với những vấn đề vượt thẩm quyền, hoàn thành trong quý III/2026. Dự thảo nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù về xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai 2024 có hiệu lực và giải pháp tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài dự kiến sẽ được trình Quốc hội khóa XVI trong chương trình kỳ họp thứ nhất.

Đáng chú ý, Chính phủ hiện đang khẩn trương chuẩn bị ban hành hệ thống chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ đồng loạt cho hơn 2.600 dự án khác. Các dự án sẽ được phân chia vào 3 nhóm vướng mắc trọng tâm, bao gồm: Sai phạm lịch sử vốn mắc kẹt sau các kết luận thanh tra, kiểm tra về giá đất và quy hoạch nhưng chưa có cơ chế thực thi hậu kiểm phù hợp; chồng chéo pháp luật - các dự án bị kẹt giữa những quy định giao thoa của các luật liên quan; và các dự án treo bao gồm diện tích đất đã giao nhưng chủ đầu tư thiếu năng lực triển khai hoặc do vướng bồi thường giải phóng mặt bằng. Việc phân loại là cơ sở quan trọng để ban hành những chính sách đặc thù phù hợp và linh hoạt, giúp rút ngắn thời gian xử lý đáng kể so với quy trình thông thường.

Trong bối cảnh nền kinh tế đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng ở mức hai con số, việc nhanh chóng hồi sinh các dự án tồn đọng càng trở nên cấp thiết, bởi đây chính là chìa khóa để khơi thông dòng vốn, tối ưu hóa tài sản công, phục hồi niềm tin của nhà đầu tư và tạo ra những giá trị thực tiễn cho sự phát triển nhanh, bền vững. Hay nói cách khác, chỉ khi những "khối u" lãng phí này được cắt bỏ hoàn toàn, nền kinh tế Việt Nam mới có thể nhẹ gánh vươn mình, hiện thực hóa khát vọng hùng cường trong kỷ nguyên mới.

Khơi thông nguồn lực từ dự án tồn đọng không chỉ đơn thuần là việc giải cứu những khối bê tông vô hồn hay những lô đất cỏ mọc um tùm. Đó còn là “cuộc chiến” định hình lại niềm tin của người dân, doanh nghiệp và là phép thử quan trọng đối với bản lĩnh, năng lực và sự kiên quyết của bộ máy điều hành. Các chuyên gia kỳ vọng, với những chỉ đạo và giải pháp quyết liệt của Trung ương, hàng nghìn dự án tồn đọng kéo dài sẽ sớm được đẩy nhanh tiến độ, giải phóng nguồn lực kinh tế - xã hội vốn bị chôn vùi bấy lâu nay và chuyển hóa thành động lực tăng trưởng./.

Ngày 13/4/2026, thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã ký ban hành Kết luận số 24-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng kéo dài.

Theo đó, Bộ Chính trị cơ bản đồng ý với đề xuất của Đảng ủy Chính phủ, trong đó không xác định danh mục các dự án được xem xét xử lý, tháo gỡ, chỉ xem xét những dự án đã được cơ quan thanh tra, kiểm tra có kết luận, Tòa án có bản án, theo nguyên tắc đã được Bộ Chính trị đặt ra từ Kết luận số 77-KL/TW, ngày 2/5/2024 .

Trên cơ sở đó, Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương, gắn với trách nhiệm của cấp ủy và người đứng đầu, khẩn trương rà soát kỹ các dự án, xác định vấn đề vướng mắc cụ thể và thẩm quyền xử lý để chủ động giải quyết hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền giải quyết theo Kết luận số 18-KL/TW, ngày 2/4/2026 của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Các bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm rà soát không để xảy ra trường hợp còn có dự án tồn đọng nhưng không được tổng hợp, xem xét xử lý, tháo gỡ.

Bộ Chính trị đồng ý nguyên tắc có cơ chế đặc thù để xử lý các sai phạm ngoài phạm vi các cơ chế đã được quy định tại Kết luận số 77-KL/TW, ngày 2/5/2024 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 170/2024/QH15, ngày 30/11/2024 của Quốc hội. Giao Đảng ủy Chính phủ chủ trì, thống nhất với Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy các cơ quan tư pháp đề xuất cụ thể cơ chế, chính sách, báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, phù hợp với chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước bảo đảm nguyên tắc nhà đầu tư phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, không ảnh hưởng tới an ninh, quốc phòng, bảo đảm năng lực, điều kiện thực hiện dự án theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, Bộ Chính trị cũng đồng ý nguyên tắc cho phép xem xét, xử lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án, đất đai và các dự án thuộc lĩnh vực khác theo hướng xem xét xử lý tháo gỡ đồng thời với quá trình xử lý trách nhiệm theo các kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án, bảo đảm không hợp pháp hóa các sai phạm, không làm phát sinh sai phạm mới và có phương án khắc phục thiệt hại; hạn chế tối đa các khiếu kiện, nhất là đối với các dự án có yếu tố nước ngoài; bảo đảm quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba ngay tình.

Ủy ban Kiểm tra Trung ương, cấp ủy các cấp được giao tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện và xử lý các vi phạm, sai phạm trước, trong và sau khi giải quyết các dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng, không để phát sinh sai phạm mới.


Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Thương hiệu dẫn đầu

Lên đầu trang
Top