Bài 5: Kiến tạo hệ sinh thái “tam nông”: 5 đột phá biến nguồn lực thành năng lực phát triển quốc gia
LỜI TÒA SOẠN
Bốn bài trước của chuyên đề "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình phát triển mới của Việt Nam" đã lần lượt đi từ chiều sâu lịch sử và vị thế của "tam nông" trong tiến trình phát triển đất nước, đến nhận diện những nguồn lực và điểm nghẽn đang hạn chế sức lan tỏa; từ yêu cầu đổi mới quản trị, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, đến bài toán tổ chức lại sản xuất và kết nối các chủ thể. Đi đến kỳ cuối, câu hỏi vì thế không còn dừng ở việc "tam nông" đang có những nguồn lực gì, mà chuyển sang một vấn đề có tính quyết định hơn: Trong điều kiện nguồn lực hữu hạn và yêu cầu phát triển ngày càng cao, đâu là những đột phá có khả năng "mở khóa", kết nối và làm chuyển động cả hệ sinh thái?
Qua 4 kỳ của chuyên đề, một nhận thức ngày càng hiện lên rõ: Nguồn lực tự nó chưa phải là năng lực phát triển. Đất đai, tài nguyên, vốn, khoa học, công nghệ, doanh nghiệp, thị trường hay những giá trị cộng đồng chỉ thực sự trở thành sức mạnh khi được tổ chức trong những quan hệ có khả năng tạo giá trị, tích lũy tri thức, nâng cao năng lực của các chủ thể và tiếp tục tự phát triển. Vì vậy, vấn đề đặt ra không chỉ là huy động thêm nguồn lực, mà quan trọng hơn là làm thế nào để giá trị được nhận diện và phân bổ đúng; người dân và cộng đồng có khả năng hợp tác; doanh nghiệp lớn lên cùng mạng lưới; dữ liệu và công nghệ được hấp thụ, làm chủ; sản phẩm không chỉ đạt chuẩn mà còn xây dựng được thương hiệu và giữ lại nhiều giá trị hơn; hội nhập không chỉ mở rộng thị trường mà còn bồi đắp nội lực, sức chống chịu và quyền lựa chọn của đất nước.
Bài 5 bắt đầu từ một nền tảng có tính phương pháp: Phải nhìn đúng và đầy đủ những giá trị mà nông nghiệp, nông dân, nông thôn đang tạo ra để nguồn lực có thể được huy động và phân bổ đúng hướng. Trên nền tảng đó, năm đột phá được đặt ra không phải như năm chương trình tách rời, mà là năm điểm mở khóa có khả năng tác động và khuếch đại lẫn nhau: Biến vốn xã hội thành năng lực hợp tác; làm cho doanh nghiệp dẫn dắt cùng cả mạng lưới trưởng thành; biến dữ liệu và công nghệ thành năng lực làm chủ; chuyển từ nâng chuẩn sang xây dựng thương hiệu và gia tăng phần giá trị giữ lại; tổ chức hội nhập để bồi đắp nội lực và nâng cao tự chủ chiến lược.
Những vấn đề đó được soi chiếu qua trao đổi với TS. Lê Xuân Nghĩa, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, Viện trưởng Viện Tư vấn Phát triển (CODE), nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia; GS.TSKH. Phan Xuân Sơn, Viện trưởng Viện Chính trị, Hành chính và Chính sách công, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chuyên gia tư vấn cấp cao của Hội đồng Lý luận Trung ương; TS. Võ Trí Thành, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh; Anh hùng Lao động Thái Hương, Nhà sáng lập, Chủ tịch Hội đồng Chiến lược Tập đoàn TH, Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị - Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Bắc Á, Chủ tịch Hiệp hội Nữ doanh nhân Việt Nam, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dữ liệu quốc gia và Đại sứ Vũ Quang Minh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Campuchia, Vương quốc Anh kiêm nhiệm Ireland và Cộng hòa Liên bang Đức, Phó Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Văn hóa Doanh nghiệp Việt Nam.
Điều mà kỳ cuối hướng tới, do đó, không phải cộng thêm một danh mục những việc "cần làm", mà là tìm ra cách lựa chọn ưu tiên và thước đo của phát triển. Sau mỗi khoản đầu tư, mỗi chính sách hỗ trợ, mỗi liên kết sản xuất, mỗi lần tiếp nhận công nghệ hay mỗi chu kỳ hợp tác quốc tế, câu hỏi cuối cùng phải là: Người nông dân có mạnh hơn không, cộng đồng có hợp tác tốt hơn không, doanh nghiệp và các chủ thể trong chuỗi có trưởng thành hơn không, nhiều giá trị hơn có được giữ lại không, và đất nước có thêm năng lực cùng quyền lựa chọn để tiếp tục phát triển hay không?
Đó cũng là cách để những nguồn lực của "tam nông" không chỉ tạo ra kết quả cho một mùa vụ hay một giai đoạn, mà từng bước trở thành năng lực phát triển lâu dài của người dân, cộng đồng và quốc gia.
Trân trọng giới thiệu cùng độc giả!
PHẦN I
NHÌN ĐÚNG GIÁ TRỊ CỦA "TAM NÔNG" ĐỂ NGUỒN LỰC CÓ THỂ CHUYỂN ĐỘNG
Nhìn đúng giá trị là điều kiện đầu tiên để phân bổ đúng nguồn lực. Nhưng một hệ sinh thái phát triển không chỉ được tạo nên bởi những nguồn lực hữu hình có thể đo đếm. Trong lịch sử nông thôn Việt Nam còn tồn tại một nguồn lực đặc biệt: lòng tin, khả năng hợp tác, tinh thần cộng đồng và năng lực cùng nhau giải quyết những công việc mà từng hộ riêng lẻ không thể thực hiện. Nếu vốn tự nhiên cần được nhận diện và định giá đúng, thì vốn xã hội cần được tổ chức để trở thành năng lực hành động. Đó là đột phá thứ nhất.
TS. LÊ XUÂN NGHĨA, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia, Viện trưởng Viện Tư vấn Phát triển (CODE), Nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia
1.1. "Định giá lại" không phải là quy mọi giá trị thành tiền
- Thưa ông, Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2022 đặt ra một yêu cầu rất đáng chú ý: "Có cơ chế điều tiết, phân bổ ngân sách bảo đảm hài hoà lợi ích giữa các địa phương có diện tích đất trồng lúa, đất rừng lớn với các địa phương khác; hỗ trợ nâng cao đời sống của người trồng lúa, trồng rừng". Đến Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2026, bài toán được đặt rộng hơn ở hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực và "từng bước hạch toán vốn tự nhiên". Theo ông, chúng ta cần "định giá lại" đóng góp của "tam nông" như thế nào để những giá trị mà nông nghiệp, nông dân và nông thôn tạo ra được phản ánh đầy đủ hơn trong các quyết định phát triển?
TS. Lê Xuân Nghĩa: Trước hết phải làm rõ rằng "định giá lại" ở đây không có nghĩa cái gì cũng phải quy ra tiền, càng không có nghĩa biến rừng, nguồn nước, cảnh quan, văn hóa hay những giá trị xã hội thành hàng hóa để mua bán. Vấn đề căn bản là khi ra quyết định phát triển, chúng ta phải nhìn đầy đủ hơn những giá trị đang được tạo ra và những chi phí đang được một bộ phận địa phương, cộng đồng và người dân gánh chịu. Một héc-ta đất lúa, ngoài giá trị của lượng lúa thu hoạch, còn tham gia bảo đảm an ninh lương thực, duy trì không gian sản xuất, sinh kế và trong nhiều trường hợp cả cảnh quan, văn hóa nông thôn. Một khu rừng không chỉ có giá trị gỗ mà còn giữ nước, hạn chế xói mòn, bảo vệ đa dạng sinh học, hấp thụ carbon, duy trì cảnh quan và giảm nhiều loại rủi ro cho khu vực phía dưới. Một vùng đầu nguồn có thể không tạo ra nhiều thu ngân sách trực tiếp, nhưng lại cung cấp những dịch vụ sinh thái rất quan trọng cho cả một lưu vực.
Nhiều giá trị như vậy có một đặc điểm chung: Người tạo ra hoặc gìn giữ giá trị không nhất thiết là người nhận được đầy đủ lợi ích; ngược lại, người hưởng lợi có thể ở rất xa nơi giá trị được tạo ra. Người dân giữ rừng ở thượng nguồn, chẳng hạn, không chỉ bảo vệ sinh kế của chính mình mà còn góp phần giữ nước, giảm xói mòn, hạn chế rủi ro cho cả vùng hạ lưu. Người trồng lúa không chỉ tạo ra hạt gạo mà còn góp phần bảo đảm an ninh lương thực và duy trì những không gian sản xuất có ý nghĩa đối với toàn xã hội.
Vấn đề là nhiều lợi ích như thế chưa được phản ánh đầy đủ trong giá cả hay trong cách phân bổ nguồn lực. Nếu chúng ta chủ yếu nhìn vào những chỉ tiêu dễ đo như thu ngân sách, dân số, sản lượng hay giá trị giao dịch trên thị trường, rất dễ đánh giá thấp những địa phương và cộng đồng đang tạo ra những lợi ích chung cho xã hội. Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2022 thực chất đã đặt ra bài toán này khi yêu cầu có cơ chế điều tiết, phân bổ ngân sách hài hòa lợi ích giữa những địa phương có diện tích đất trồng lúa, đất rừng lớn với các địa phương khác và hỗ trợ nâng cao đời sống người trực tiếp trồng lúa, trồng rừng.
Do đó, "định giá lại" đóng góp của "tam nông" trước hết là thay đổi cách nhìn và căn cứ để ra quyết định phát triển. Theo tôi, cần phân biệt ít nhất ba nhóm giá trị. Một là những giá trị đã có thị trường và có thể xác định tương đối rõ như nông sản, gỗ hợp pháp hay một số dịch vụ. Hai là những lợi ích kinh tế - xã hội có thể lượng hóa hoặc ước lượng nhưng thị trường chưa phản ánh đầy đủ, chẳng hạn chức năng giữ nước, giảm rủi ro thiên tai, hấp thụ carbon hay lợi ích của một hệ sinh thái đối với khu vực hạ lưu. Ba là những giá trị rất quan trọng nhưng không nên ép phải có một mức giá duy nhất, như đa dạng sinh học, an ninh lương thực, bản sắc văn hóa hay sự ổn định của một cộng đồng. Những giá trị thuộc nhóm thứ ba không phải vì khó định giá mà có thể bỏ qua; ngược lại, chính sách phải có những ngưỡng bảo vệ, tiêu chuẩn và nguyên tắc để chúng không bị hy sinh chỉ vì một phương án đầu tư tạo ra lợi ích tài chính ngắn hạn lớn hơn.
Thực tế những năm gần đây cho thấy một phần giá trị sinh thái vốn rất khó nhìn thấy trong hệ thống giá cả đã bắt đầu được đo lường và chuyển hóa thành những dòng tài chính mới thông qua chi trả dịch vụ môi trường rừng hay cơ chế chi trả kết quả giảm phát thải. Nhưng điều đó càng cho thấy phải hiểu đúng khái niệm "định giá": Giá giao dịch của một tấn carbon chỉ phản ánh một dịch vụ cụ thể của hệ sinh thái, tuyệt nhiên không phải giá của cả khu rừng. Thị trường có thể giúp chúng ta nhìn thấy một phần giá trị vốn chưa được phản ánh, nhưng không được phép thu hẹp toàn bộ giá trị tự nhiên vào một mức giá duy nhất.
Tôi cho rằng đây chính là bước chuyển cần thiết trong tư duy, từ cách nhìn "tam nông là khu vực cần hỗ trợ" sang nhận thức đầy đủ hơn rằng "tam nông đang tạo ra những giá trị phát triển mà xã hội phải nhận diện, bảo vệ và tái đầu tư tương xứng". Khi nhìn đúng giá trị thì mới có cơ sở để phân bổ đúng nguồn lực; còn nếu ngay từ đầu hệ thống hạch toán đã bỏ sót phần lớn giá trị mà một vùng đất, một khu rừng hay một cộng đồng tạo ra, rất khó kỳ vọng cơ chế tài chính sau đó có thể hài hòa lợi ích một cách thực chất.
1.2. Ai gánh chi phí để tạo ra lợi ích chung phải được nhìn thấy trong cơ chế phân bổ nguồn lực
- Nếu thừa nhận đất lúa, rừng, nguồn nước và hệ sinh thái tạo ra những lợi ích vượt ra ngoài địa giới của một địa phương hay một hộ dân, thì bài toán tiếp theo là chi phí. Theo ông, cần nhận diện và chia sẻ những chi phí ấy như thế nào để vừa bảo đảm công bằng, vừa không biến chính sách thành cơ chế "xin - cho" hay bù đắp cơ học?
TS. Lê Xuân Nghĩa: Theo tôi, đây mới là phần khó nhất. Không phải cứ một địa phương có nhiều đất lúa hay nhiều rừng thì đương nhiên được nhận một khoản tiền cố định. Chính sách cần phân biệt rất rõ chi phí thực tế, chi phí cơ hội hợp lý và kết quả mà địa phương hoặc người dân tạo ra. Chi phí trực tiếp tương đối dễ nhận biết, gồm chi phí bảo vệ rừng, tuần tra, phòng cháy; chi phí quản lý nguồn nước; chi phí duy trì hệ thống thủy lợi; chi phí áp dụng những quy trình sản xuất giúp bảo vệ đất, nước và môi trường. Khó hơn là chi phí cơ hội - tức những cơ hội đầu tư, thu nhập hoặc phát triển mà một địa phương, cộng đồng phải từ bỏ hoặc bị giới hạn để duy trì đất lúa, đất rừng hay không gian sinh thái. Một địa phương phải duy trì diện tích rất lớn đất lúa, đất rừng hoặc không gian sinh thái có thể có ít lựa chọn hơn trong thu hút một số loại hình đầu tư, nhưng chi phí cơ hội phải được xác định dựa trên những phương án hợp pháp, khả thi và thực tế; không thể lấy một kịch bản chuyển đổi đất rất cao về giá trị nhưng không phù hợp quy hoạch, pháp luật hoặc điều kiện thị trường để yêu cầu Nhà nước bù đắp.
Theo tôi, cơ chế tài chính nên có ít nhất hai tầng. Tầng thứ nhất là nguồn lực ổn định, nhằm bảo đảm địa phương và cộng đồng có đủ điều kiện thực hiện những nhiệm vụ dài hạn mà quốc gia giao cho họ như bảo vệ rừng, duy trì quỹ đất sản xuất chiến lược, quản lý nguồn nước, bảo tồn hệ sinh thái và cung cấp những dịch vụ công thiết yếu. Tầng thứ hai là nguồn lực gắn với kết quả, để khuyến khích địa phương, cộng đồng hoặc người sản xuất làm tốt hơn, để chất lượng rừng được cải thiện, nguồn nước được bảo vệ, đất ít suy thoái hơn, thu nhập người dân tăng, sản xuất được tổ chức hiệu quả và bền vững hơn. Như vậy sẽ tránh được hai cực, một bên là địa phương không đủ nguồn lực thực hiện nhiệm vụ chiến lược lâu dài; bên kia là cứ có diện tích đất hay rừng thì nhận hỗ trợ, trong khi kết quả bảo vệ, hiệu quả sử dụng nguồn lực và đời sống người dân không được đánh giá.
Điểm tôi đặc biệt muốn nhấn mạnh là nguồn tiền phải tạo thêm năng lực phát triển, chứ không chỉ bù cho việc địa phương "không được làm cái khác". Nếu ngân sách phân bổ thêm cho một tỉnh có diện tích rừng rất lớn, nguồn lực ấy không nên chỉ đủ cho công việc giữ rừng; nó cần góp phần tạo ra sinh kế dưới tán rừng, hạ tầng thiết yếu, đào tạo người dân, ứng dụng khoa học - công nghệ, phát triển du lịch sinh thái hoặc những ngành kinh tế phù hợp với chức năng bảo tồn. Đối với đất lúa cũng vậy, hỗ trợ địa phương giữ đất lúa không nên được hiểu đơn giản là cấp bao nhiêu tiền trên một héc-ta; cuối cùng phải làm sao để người trực tiếp trồng lúa có năng suất cao hơn, chi phí thấp hơn, đầu ra ổn định hơn và thu nhập đủ hấp dẫn để họ có động lực tiếp tục duy trì một nền sản xuất bền vững.
Nếu ngân sách chỉ bù chi phí mà không tạo thêm khả năng phát triển thì sau nhiều năm chúng ta vẫn phải tiếp tục bù. Còn nếu một phần nguồn lực được chuyển thành hạ tầng, kỹ năng, công nghệ, dịch vụ và sinh kế tốt hơn thì chính sách tài khóa đã trở thành đầu tư cho năng lực phát triển. Đây là sự khác nhau rất lớn giữa "hỗ trợ để duy trì" và "đầu tư để phát triển". Một chính sách tốt không chỉ giúp địa phương giữ được rừng hay giữ được đất lúa trong năm nay, mà phải giúp chính địa phương và người dân có thêm khả năng sống tốt hơn từ việc thực hiện chức năng đó trong nhiều năm sau.
1.3. Nơi hưởng lợi từ tài nguyên phải có trách nhiệm với nơi tạo ra và gìn giữ lợi ích
- Như ông phân tích thì có thể thấy nhiều giá trị sinh thái không dừng trong địa giới hành chính: Rừng đầu nguồn giữ nước cho vùng hạ lưu, một lưu vực có thể đi qua nhiều tỉnh, còn lợi ích từ nguồn nước có thể đến với đô thị, nhà máy, sản xuất nông nghiệp và các ngành dịch vụ ở nơi khác. Vậy cần tổ chức cơ chế chia sẻ lợi ích như thế nào để hình thành quan hệ công bằng hơn giữa nơi bảo vệ tài nguyên và nơi hưởng lợi?
TS. Lê Xuân Nghĩa: Đây là chỗ chúng ta phải chuyển từ cách nhìn thuần túy theo địa giới hành chính sang cách nhìn theo hệ sinh thái và dòng lợi ích. Nước là ví dụ rất rõ. Một khu rừng đầu nguồn nằm ở tỉnh A nhưng lợi ích của việc giữ rừng có thể đến với người dân, doanh nghiệp, nhà máy nước, khu công nghiệp, nông nghiệp và cả thành phố ở tỉnh B hay tỉnh C. Nếu trách nhiệm bảo vệ chủ yếu nằm ở nơi có rừng nhưng phần lớn lợi ích lại chảy xuống phía dưới thì quan hệ đó về dài hạn sẽ thiếu bền vững. Nguyên tắc kinh tế tương đối rõ: Ai hưởng lợi từ một dịch vụ hệ sinh thái thì phải có trách nhiệm thích hợp đối với chi phí duy trì dịch vụ đó.
Việt Nam thực ra đã có một nền tảng khá lớn cho nguyên tắc này. Trong 5 năm 2021-2025, nguồn thu dịch vụ môi trường rừng đạt 18.763 tỷ đồng. Đáng chú ý, các cơ sở sản xuất thủy điện đóng góp 16.092 tỷ đồng, chiếm 85,76% tổng nguồn thu; các cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch đóng góp 606 tỷ đồng, các cơ sở công nghiệp sử dụng nước 297 tỷ đồng và hoạt động du lịch sinh thái 309 tỷ đồng. Những con số này cho thấy quan hệ giữa nơi gìn giữ rừng và các chủ thể hưởng lợi từ nước, năng lượng, cảnh quan hay những dịch vụ sinh thái đã bắt đầu được thể chế hóa thành một dòng tài chính có quy mô hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm.
Nhưng tổng số tiền thu được mới chỉ là khía cạnh đầu tiên của câu chuyện. Điều quan trọng hơn là dòng tiền cuối cùng đi tới đâu và tạo ra kết quả gì. Trong cùng giai đoạn, 316.847 chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân được chi trả 803 tỷ đồng; 9.368 cộng đồng dân cư nhận 1.788 tỷ đồng. Thông qua giao khoán bảo vệ rừng, tổng số tiền chi trả cho các đối tượng nhận khoán đạt 4.724 tỷ đồng, trong đó 86.423 cộng đồng dân cư nhận 3.914 tỷ đồng. Riêng nguồn ERPA, 77.701 hộ gia đình, cá nhân được chi trả 154,61 tỷ đồng và 1.078 cộng đồng dân cư được nhận 67,08 tỷ đồng. Những con số ấy có ý nghĩa, nhưng từ góc độ kinh tế chúng ta phải nhìn rộng hơn: Thu nhập của người giữ rừng thay đổi đến đâu, chất lượng rừng tốt hơn thế nào, bao nhiêu nguồn lực được tái đầu tư cho sinh kế và hệ sinh thái, chi phí trung gian chiếm tỷ lệ bao nhiêu?
Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ cũng là một ví dụ đáng chú ý. Đến giữa năm 2026, Việt Nam đã thu 56,5 triệu USD từ Ngân hàng Thế giới thông qua chuyển nhượng 11,3 triệu tấn CO2 giảm phát thải từ rừng, với đơn giá 5 USD mỗi tấn. Nguồn thu đã được chi trả cho gần 80.000 người hưởng lợi tại các địa phương. Điều đáng quan tâm ở đây không đơn thuần là 56,5 triệu USD, mà là lần đầu tiên một kết quả môi trường vốn rất khó nhìn thấy đã được đo lường, xác minh và chuyển thành một nguồn lực tài chính có thể quay trở lại cho bảo vệ rừng và sinh kế.
Như tôi đã nói, carbon chỉ là một lớp giá trị của hệ sinh thái. Vì vậy, nguồn thu carbon phải bổ sung chứ không thể thay thế ngân sách, chi trả dịch vụ môi trường hay các cơ chế khác. Điều quan trọng hơn là hình thành được một kiến trúc trong đó các nguồn tài chính bổ trợ cho nhau và người trực tiếp tạo ra, gìn giữ giá trị thực sự được hưởng lợi.
Theo tôi, nguyên tắc rộng hơn cần được xác lập là: Không chỉ "người gây tác động phải trả", mà "người hưởng lợi cũng phải có trách nhiệm chia sẻ chi phí gìn giữ lợi ích". Khi nguyên tắc ấy được thể chế hóa hợp lý, bảo tồn mới có thể trở thành một hoạt động kinh tế có động lực dài hạn, thay vì chỉ là nghĩa vụ được giao cho một số địa phương và cộng đồng.
1.4. Từ cung ứng vốn đến kiến tạo năng lực phát triển
- Một trong những điểm nghẽn của "tam nông" lâu nay không chỉ là thiếu vốn, mà còn là làm thế nào để dòng vốn đến được đúng chủ thể, đúng thời điểm, phù hợp với chu kỳ sản xuất và mức độ rủi ro; đồng thời sau mỗi khoản đầu tư, người nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp phải có thêm năng lực phát triển. Theo ông, cần đổi mới vai trò của tín dụng và các thiết chế trung gian như thế nào để tài chính thực sự trở thành một bộ phận của hệ sinh thái phát triển "tam nông", thay vì chỉ là nguồn vốn cho từng phương án sản xuất cụ thể?
TS. Lê Xuân Nghĩa: Nên nhìn vấn đề rộng hơn câu chuyện tăng hay giảm tín dụng. Nông nghiệp không chỉ cần nhiều vốn hơn, mà cần một kiến trúc tài chính phù hợp hơn với đặc điểm của nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Khu vực này có những đặc thù rất rõ, khi quy mô hộ sản xuất nhỏ, khách hàng phân tán, dòng tiền theo mùa vụ, tài sản bảo đảm hạn chế, rủi ro thiên tai, dịch bệnh và thị trường cao. Nếu áp dụng hoàn toàn cách thẩm định như đối với những lĩnh vực có dòng tiền ổn định và tài sản bảo đảm rõ ràng thì một bộ phận rất lớn người sản xuất sẽ khó tiếp cận tín dụng chính thức. Vì vậy, bài toán đầu tiên là thu hẹp khoảng cách thông tin giữa ngân hàng và người vay, đồng thời giảm chi phí giao dịch: Ngân hàng phải hiểu người vay, ngành hàng, mùa vụ, vùng sản xuất và chuỗi mà người vay tham gia; ngược lại, người nông dân cũng phải hiểu điều kiện tín dụng, biết tổ chức dòng tiền, xây dựng lịch sử tín dụng và nâng dần năng lực quản trị tài chính của mình.
Ở đây tôi muốn lấy một trường hợp rất đáng chú ý là Agribank. Điều tôi đánh giá cao không chỉ nằm ở quy mô vốn dành cho khu vực nông nghiệp, nông thôn, mà quan trọng hơn là Agribank đã duy trì được một mạng lưới tài chính sâu tới cơ sở trong nhiều thập kỷ. Đến ngày 30/6/2026, dư nợ cho vay nền kinh tế của Agribank đã vượt 2 triệu tỷ đồng, riêng dư nợ đối với nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt trên 558.000 tỷ đồng. Ngân hàng cũng đang chuyển dần từ mở rộng quy mô sang nâng chất lượng dòng vốn, gắn tín dụng với vùng nguyên liệu, công nghệ, tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải, chế biến và chuỗi giá trị.
Tôi cho rằng đây là sự chuyển đổi đúng hướng. Một ngân hàng phục vụ "tam nông" trong giai đoạn mới không nên chỉ đặt câu hỏi "cho vay được bao nhiêu?", mà phải nhìn nhận "dòng vốn ấy đã làm thay đổi năng lực của người vay và nền sản xuất như thế nào?". Đó là khác biệt giữa cấp vốn cho một nhu cầu trước mắt và sử dụng tài chính để góp phần hình thành năng lực sản xuất lâu dài.
Tôi cũng đánh giá cao mô hình phối hợp giữa Agribank và Hội Nông dân Việt Nam thông qua các tổ vay vốn. Đến cuối tháng 7/2026, Agribank có trên 58.000 tổ vay vốn với hơn 910.000 thành viên, dư nợ trên 216.000 tỷ đồng; riêng các tổ do Hội Nông dân Việt Nam quản lý có dư nợ khoảng 77.000 tỷ đồng, chiếm 35,6% tổng dư nợ qua tổ vay vốn. Nếu nhìn bằng lý thuyết tài chính, đây là một cách giảm chi phí thông tin và chi phí giao dịch; nếu nhìn rộng hơn bằng lý thuyết phát triển, đây còn là một ví dụ đáng chú ý về kết nối vốn tài chính với vốn xã hội. Hội Nông dân Việt Nam hiểu hội viên, địa bàn và điều kiện sản xuất; ngân hàng có năng lực tín dụng, quản trị rủi ro và dịch vụ tài chính. Hai thiết chế khi phối hợp tốt sẽ làm cho chính sách tín dụng đến gần người dân hơn, đồng thời tăng thông tin, kỷ luật và lòng tin trong quá trình sử dụng vốn.
Bước tiếp theo, theo tôi, không nên chỉ là tăng thêm số tổ vay vốn hoặc dư nợ. Agribank và Hội Nông dân Việt Nam có thể tiến từ "kết nối người dân với vốn" sang "kết nối người dân với một hệ sinh thái năng lực". Tổ vay vốn có thể trở thành một điểm kết nối không chỉ của tín dụng mà còn của kiến thức tài chính, quản trị dòng tiền, bảo hiểm, dữ liệu, tiêu chuẩn xanh, chuyển đổi số và thông tin thị trường. Khi đó, Hội Nông dân Việt Nam cũng không chỉ đóng vai trò vận động hay hỗ trợ thủ tục, mà có thể trở thành một thiết chế trung gian phát triển, giúp tập hợp nhu cầu, nâng cao năng lực của hội viên và chuyển tải phản hồi từ cơ sở tới ngân hàng, doanh nghiệp và cơ quan quản lý.
Một hướng khác tôi đánh giá tích cực là tín dụng xanh. Agribank đã triển khai nguồn vốn cho nông nghiệp sạch, công nghệ cao và tham gia chương trình tín dụng đối với Đề án một triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở Đồng bằng sông Cửu Long; trong chương trình này, lãi suất cho vay được ưu đãi tối thiểu 1%/năm so với mức tương ứng đang áp dụng với từng nhóm khách hàng tham gia. Điều đáng quan tâm không chỉ là lãi suất thấp hơn, mà là tín dụng bắt đầu được gắn với quá trình chuyển đổi phương thức sản xuất. Tuy nhiên, tín dụng xanh phải đi tới kết quả xanh có thể đo lường: Giảm đầu vào, giảm phát thải, giảm chi phí, cải thiện năng suất, chất lượng và thu nhập. Khi dữ liệu đủ tốt, ngân hàng mới có cơ sở để đánh giá ngày càng đầy đủ hơn dòng tiền, hợp đồng, chất lượng chuỗi và năng lực phương án sản xuất, bên cạnh tài sản bảo đảm.
Do đó, điều cần xây dựng là một hệ sinh thái tài chính nông thôn, chứ không phải một chương trình tín dụng đơn lẻ. Trong hệ sinh thái ấy, ngân hàng cung cấp vốn và dịch vụ tài chính; Hội Nông dân và các tổ chức xã hội kết nối, tổ chức và hỗ trợ người dân; hợp tác xã tạo quy mô dịch vụ; doanh nghiệp tổ chức thị trường; bảo hiểm chia sẻ rủi ro; còn Nhà nước kiến tạo thể chế, dữ liệu và hạ tầng dùng chung. Với vị trí, mạng lưới và kinh nghiệm tích lũy hiện nay, tôi cho rằng Agribank có điều kiện để đi từ "bệ đỡ vốn" trở thành một hạ tầng tài chính quan trọng của quá trình hiện đại hóa "tam nông"; còn Hội Nông dân có thể từ cầu nối tín dụng trở thành một thiết chế hỗ trợ nâng cao năng lực kinh tế và tài chính của người nông dân.
1.5. Từ các công cụ riêng lẻ đến một kiến trúc tài chính khuyến khích đúng hành vi
- Thưa ông, đặt trong yêu cầu đổi mới mô hình phát triển đất nước và tiếp tục thực hiện hiệu quả chủ trương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, vấn đề đặt ra hiện nay không chỉ là dành thêm nguồn lực cho "tam nông", mà là tổ chức lại cách huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực sao cho tạo được hiệu quả, sức lan tỏa và năng lực phát triển mới. Theo ông, từ nay đến năm 2030, đâu là những đột phá về thể chế tài chính và cơ chế phân bổ nguồn lực cần được ưu tiên để "tam nông" vừa được đầu tư tương xứng với những giá trị đang tạo ra, vừa hình thành khả năng tự phát triển mạnh hơn trong dài hạn?
TS. Lê Xuân Nghĩa: Theo tôi, điều quan trọng nhất không phải lập thêm một quỹ hay tạo thêm một chương trình hỗ trợ. Việt Nam đã có khá nhiều công cụ tài chính; cái còn thiếu là một kiến trúc tài chính - tức cách phân vai và phối hợp giữa ngân sách, tín dụng, bảo hiểm, vốn doanh nghiệp và các nguồn tài chính xanh để mỗi công cụ giải quyết đúng một loại vấn đề và các nguồn lực bổ trợ được cho nhau.
Trước hết là dữ liệu và hệ thống hạch toán vốn tự nhiên. Không thể phân bổ nguồn lực hợp lý nếu chúng ta không biết đang có gì, tài nguyên thay đổi thế nào, khu vực nào đang tạo ra những lợi ích nào và ai đang chịu chi phí. Nhưng hạch toán vốn tự nhiên không nên dừng ở việc tạo ra thêm một bảng thống kê; thông tin phải đi vào lựa chọn dự án, quy hoạch, đầu tư công và đánh giá tác động. Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2026 đã đặt yêu cầu từng bước hạch toán vốn tự nhiên; vấn đề quan trọng hơn là làm cho kết quả hạch toán thực sự ảnh hưởng đến quyết định phát triển.
Tiếp đó phải làm rõ quyền, trách nhiệm và chức năng của từng nguồn tài chính. Ai có quyền đối với đất, rừng, nguồn nước hay kết quả giảm phát thải; ai bỏ vốn; ai chịu rủi ro; ai được hưởng nguồn thu, những điều đó phải đủ rõ trước khi tiền đi vào dự án. Ngân sách dành cho hàng hóa công và nhiệm vụ chiến lược; tín dụng dành cho phương án có khả năng hoàn vốn; bảo hiểm chia sẻ những loại rủi ro phù hợp; doanh nghiệp đầu tư vào cơ hội kinh doanh; còn chi trả dịch vụ môi trường và thị trường carbon tạo thêm động lực đối với những kết quả môi trường có thể xác định. Không nên lấy một công cụ để giải quyết tất cả các mục tiêu.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy thị trường carbon chỉ vận hành có hiệu quả khi nằm trong một hệ thống rộng hơn. Trung Quốc vừa phát triển thị trường phát thải vừa có cơ chế tín chỉ trong nước; Nhật Bản vận hành J-Credit đồng thời triển khai Cơ chế Tín chỉ chung với các nước đối tác; Singapore đang phát triển vai trò trung tâm giao dịch khu vực; Indonesia đã đưa sàn carbon vào vận hành. Điểm chung không phải là các quốc gia "bán được bao nhiêu tín chỉ", mà là họ đồng thời xây dựng luật chơi, hệ thống đo lường, đăng ký, dữ liệu, thị trường và năng lực của các chủ thể tham gia.
Dư địa của khu vực và Việt Nam là đáng chú ý. Theo BloombergNEF, Đông Nam Á sở hữu khoảng một phần ba tiềm năng giải pháp carbon dựa vào tự nhiên của thế giới; trong một kịch bản thị trường được mở rộng hiệu quả, khu vực có thể tạo ra quy mô doanh thu rất lớn và hàng triệu việc làm xanh đến năm 2050. Việt Nam có tiềm năng giảm phát thải dựa vào tự nhiên khoảng 103 triệu tấn CO₂ tương đương (MtCO₂e), đứng thứ ba trong nhóm các nước ASEAN được so sánh, sau Indonesia (749 MtCO₂e) và Malaysia (132 MtCO₂e) nhưng cao hơn Myanmar (93 MtCO₂e) và Thái Lan (89 MtCO₂e). Đáng chú ý, cũng theo ước tính của BloombergNEF, ngoại trừ Singapore, tất cả các thị trường Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam) đều có tiềm năng giảm phát thải dựa vào tự nhiên lớn hơn mức cần thiết để thực hiện cam kết giảm phát thải theo Thỏa thuận Paris. Điều này cho thấy Việt Nam còn dư địa đáng kể để phát triển các giải pháp dựa vào tự nhiên và tham gia sâu hơn vào thị trường tín chỉ carbon. Đây phải được hiểu là một chỉ báo về tiềm năng, không phải một nguồn thu mặc nhiên sẽ xuất hiện. Khoảng cách từ một tấn carbon có khả năng giảm hoặc hấp thụ đến một tín chỉ đủ điều kiện giao dịch còn là cả một hệ thống về quyền, dữ liệu, đo lường, thẩm định, tính toàn vẹn môi trường và kết nối thị trường.
Hình 1. Tiềm năng giảm phát thải dựa vào tự nhiên theo thị trường
Nguồn: BloombergNEF (2025, tr. 8)[1]
Do đó, Việt Nam không nên đặt mục tiêu đơn giản là bán được càng nhiều tín chỉ càng tốt. Điều quan trọng là thông qua quá trình phát triển thị trường, chúng ta có hình thành được năng lực đo lường, dữ liệu, quản trị dự án, dịch vụ tài chính, đội ngũ chuyên môn và cơ chế chia sẻ lợi ích hay không. Nếu chỉ chuyển nhượng được tín chỉ nhưng năng lực kỹ thuật vẫn phụ thuộc, người giữ rừng hưởng lợi rất ít và nguồn thu không được tái đầu tư cho sinh kế và hệ sinh thái, thì chúng ta mới khai thác được một dòng tiền chứ chưa tích lũy được năng lực phát triển.
Tôi cho rằng từ nay đến 2030, cách đánh giá các công cụ tài chính của "tam nông" phải chuyển sang ít nhất ba phương diện. Thứ nhất là nguồn lực huy động được: Bao nhiêu ngân sách, tín dụng, vốn doanh nghiệp, chi trả dịch vụ môi trường hay nguồn tài chính carbon. Thứ hai là cấu trúc phân bổ: Bao nhiêu thực sự đến người tạo ra giá trị, bao nhiêu được tái đầu tư cho sinh kế, hạ tầng, kỹ năng và hệ sinh thái. Thứ ba, quan trọng nhất, là kết quả phát triển: Thu nhập ròng của người dân, chất lượng tài nguyên, năng suất, sức chống chịu và năng lực tự phát triển của địa phương thay đổi thế nào.
Kết luận số 219-KL/TW đặt yêu cầu hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân, đồng thời bảo đảm nguồn lực cho tổ chức thực hiện. Theo tôi, "hài hòa lợi ích" cuối cùng phải được chuyển thành những cơ chế có thể nhìn thấy, đo được và kiểm chứng được. Sau ba đến năm năm phải trả lời được câu hỏi nguồn lực phân bổ thêm có giúp chất lượng tài nguyên tốt hơn không; người trồng lúa, giữ rừng, bảo vệ nguồn nước có sinh kế tốt hơn không; địa phương có thêm khả năng phát triển các hoạt động kinh tế phù hợp với lợi thế và giới hạn sinh thái không; và nguồn lực công có kích hoạt được thêm nguồn lực của doanh nghiệp, cộng đồng và thị trường hay không.
Đó là bước chuyển từ hỗ trợ vì một địa phương "có nhiều tài nguyên phải bảo vệ" sang đầu tư để địa phương và người dân vừa gìn giữ được tài nguyên, vừa có thêm năng lực phát triển. Khi đó, bảo tồn không còn được nhìn như cái giá phải trả cho phát triển; ngược lại, khả năng gìn giữ, phục hồi và làm gia tăng giá trị của vốn tự nhiên trở thành một bộ phận của chính năng lực phát triển quốc gia.
PHẦN II
ĐỘT PHÁ 1: BIẾN VỐN XÃ HỘI THÀNH NĂNG LỰC HỢP TÁC CỦA NÔNG DÂN VÀ CỘNG ĐỒNG
GS.TSKH. PHAN XUÂN SƠN
Viện trưởng Viện Chính trị, Hành chính và Chính sách công;
Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
Chuyên gia tư vấn cấp cao của Hội đồng Lý luận Trung ương
2.1. "Nông dân là chủ thể, trung tâm" phải được thể hiện bằng quyền và năng lực làm chủ
- Thưa Giáo sư, Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2022 xác định "Nông dân là chủ thể, là trung tâm của quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới. Gắn xây dựng giai cấp nông dân với phát triển nông nghiệp và quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá nông thôn"; đến Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2026, yêu cầu phát triển tiếp tục được đặt trong một hệ sinh thái mới, hướng tới tạo ra những năng lực phát triển mới. Từ góc nhìn chính trị học, cần hiểu và thể chế hóa vai trò "chủ thể, trung tâm" của người nông dân như thế nào để đây không chỉ là một khẳng định về vị trí, mà trở thành năng lực làm chủ thực sự trong quá trình phát triển?
GS.TSKH. Phan Xuân Sơn: Đây là một vấn đề rất căn bản, bởi nó liên quan trực tiếp đến cách chúng ta hiểu về vị trí của người dân trong mô hình phát triển.
Nói nông dân là chủ thể, là trung tâm thì trước hết phải hiểu rằng người nông dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách, càng không chỉ là lực lượng được vận động tham gia thực hiện những chương trình đã được cơ quan quản lý thiết kế sẵn. Đã là chủ thể thì phải có tiếng nói, khả năng lựa chọn, quyền tham gia quyết định, năng lực tổ chức và trách nhiệm đối với những quyết định có liên quan trực tiếp đến sinh kế, tài sản, môi trường sống và tương lai của cộng đồng mình.
Từ góc độ chính trị học, tôi cho rằng cần phân biệt giữa vị thế chủ thể trên phương diện nguyên tắc và năng lực làm chủ trong thực tế. Một quyền được ghi nhận nhưng người dân không có thông tin, không có khả năng tiếp cận quá trình ra quyết định, không có tổ chức đại diện đủ mạnh hoặc không có khả năng thương lượng thì quyền đó rất khó chuyển hóa thành ảnh hưởng thực tế.
Vì vậy, thể chế hóa vai trò "chủ thể, trung tâm" không thể chỉ dừng ở việc khẳng định người dân được tham gia. Điều quan trọng hơn là phải tạo ra những điều kiện để sự tham gia ấy có ý nghĩa đối với quyết định cuối cùng. Tôi cho rằng có thể nhìn vấn đề này qua một số phương diện gắn bó chặt chẽ với nhau.
Thứ nhất là quyền được biết và năng lực tiếp cận thông tin. Trong quản trị hiện đại, thông tin chính là một nguồn của quyền lực. Một người nông dân không thể đưa ra lựa chọn đúng nếu không biết quy hoạch sẽ thay đổi ra sao, vùng sản xuất được tổ chức như thế nào, thị trường cần tiêu chuẩn gì, doanh nghiệp đưa ra điều kiện liên kết nào, chính sách hỗ trợ đến đâu hay bản thân họ phải chịu những rủi ro gì. Vì vậy, minh bạch thông tin không nên chỉ được hiểu là công khai một văn bản. Thông tin phải đến được với người dân, dễ hiểu, có thể sử dụng và đến đủ sớm để người dân còn khả năng lựa chọn. Đây là khác biệt rất lớn giữa công khai hình thức và minh bạch có ý nghĩa đối với quản trị.
Thứ hai là quyền tham gia phải được đặt trong toàn bộ chu trình chính sách. Tôi cho rằng đây là điểm cần thay đổi khá mạnh. Người dân không nên chỉ được hỏi ý kiến ở thời điểm phương án chính sách gần như đã hoàn tất. Đối với những chương trình tác động trực tiếp tới đất đai, sinh kế, vùng nguyên liệu, chuyển đổi cây trồng, hạ tầng, môi trường hay tổ chức cộng đồng, sự tham gia cần bắt đầu từ lúc nhận diện vấn đề, lựa chọn phương án, tổ chức thực hiện cho đến giám sát và đánh giá kết quả. Nói một cách khác, phải chuyển từ "tham vấn người dân" sang từng bước hình thành "đồng kiến tạo chính sách" ở những lĩnh vực phù hợp. Điều đó không có nghĩa Nhà nước chuyển trách nhiệm của mình cho người dân. Nhà nước vẫn phải chịu trách nhiệm về định hướng, pháp luật, lợi ích công và bảo vệ những nhóm yếu thế. Nhưng chính sách sẽ sát thực tế hơn nếu kinh nghiệm, nhu cầu và tri thức của người dân được đưa vào quá trình thiết kế ngay từ đầu.
Thứ ba là năng lực tổ chức, đại diện và thương lượng. Trong nền kinh tế thị trường, bất bình đẳng về quy mô thường kéo theo bất bình đẳng về vị thế thương lượng. Một hộ nông dân nhỏ lẻ rất khó có vị thế ngang bằng với một doanh nghiệp lớn, ngân hàng, hệ thống phân phối hay một nền tảng thương mại nếu đứng riêng lẻ. Bởi vậy, khi nói đến quyền làm chủ của nông dân, không thể chỉ nhìn ở cấp độ cá nhân. Phải nhìn cả năng lực hành động tập thể. Hợp tác xã, tổ hợp tác, hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội và những thiết chế cộng đồng cần được củng cố để thực sự trở thành nơi tập hợp lợi ích, tổ chức dịch vụ, đại diện tiếng nói và nâng cao vị thế thương lượng cho những chủ thể nhỏ. Khi đó, hợp tác xã không chỉ có chức năng kinh tế; trong một nghĩa rộng hơn, nó còn góp phần tạo ra năng lực tự tổ chức của xã hội. Một nền nông nghiệp hiện đại không thể chỉ có doanh nghiệp mạnh. Nó còn cần những người nông dân có khả năng liên kết với nhau, những hợp tác xã chuyên nghiệp và những cộng đồng có đủ năng lực tham gia vào quá trình phát triển.
Thứ tư là cơ chế phản hồi, giám sát và trách nhiệm giải trình. Quyền tham gia sẽ chưa đầy đủ nếu người dân nói nhưng không biết ý kiến của mình được xử lý như thế nào. Vì vậy, chính sách công hiện đại không chỉ cần một chiều từ Nhà nước xuống xã hội mà phải có vòng phản hồi từ xã hội trở lại Nhà nước. Người dân phải biết cơ quan nào chịu trách nhiệm; kiến nghị của mình được tiếp nhận ở đâu; khi một chương trình không phù hợp thì có cơ chế nào để điều chỉnh; khi quyền lợi bị ảnh hưởng thì có nơi nào giải quyết với chi phí hợp lý. Tôi cho rằng chính ở đây, khái niệm trách nhiệm giải trình trở nên rất quan trọng. Người thực thi quyền lực công phải giải thích được vì sao lựa chọn phương án này mà không phải phương án khác, nguồn lực đã được sử dụng như thế nào và kết quả thực tế có tương xứng với mục tiêu đề ra hay không. Khi có trách nhiệm giải trình, quyền làm chủ của người dân mới gắn được với chất lượng quản trị.
Thứ năm và cũng rất quan trọng, là quyền được hưởng lợi tương xứng với đóng góp và chi phí mà người dân phải gánh chịu. Đây không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề công bằng trong phát triển. Một cộng đồng giữ rừng, bảo vệ nguồn nước, duy trì cảnh quan, bảo tồn giống bản địa hoặc chấp nhận một số giới hạn trong khai thác tài nguyên để tạo ra lợi ích chung cho xã hội thì đóng góp ấy phải được nhận diện. Tương tự, khi người nông dân tham gia chuỗi giá trị mới, phải thay đổi phương thức sản xuất, đầu tư thêm để đáp ứng tiêu chuẩn hoặc chịu một phần rủi ro của quá trình chuyển đổi, thì cơ chế phân chia giá trị phải đủ hợp lý để họ có động lực tiếp tục tham gia. Nếu chi phí tập trung ở người nông dân còn phần giá trị gia tăng chủ yếu nằm ở những khâu khác, thì rất khó nói đến một quan hệ phát triển bền vững. Do đó, thể chế hóa vai trò chủ thể còn phải thể chế hóa cơ chế phân bổ lợi ích, chia sẻ rủi ro và bảo vệ quyền lợi của những chủ thể có vị thế yếu hơn trong chuỗi giá trị.
Tôi muốn nhấn mạnh thêm một điểm: Nói người nông dân là trung tâm không có nghĩa mọi chính sách đều phải giữ nguyên hiện trạng của nông nghiệp hay giữ mọi người ở lại làm nông nghiệp. Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tất yếu làm thay đổi cơ cấu lao động, sinh kế và không gian nông thôn. Vấn đề là người nông dân phải được nâng cao năng lực để thích ứng với sự chuyển đổi ấy, chứ không bị đặt vào vị thế thụ động trước sự chuyển đổi.
Có người sẽ tiếp tục trở thành nông dân chuyên nghiệp. Có người chuyển sang chế biến, dịch vụ, logistics, du lịch hay ngành nghề phi nông nghiệp ngay tại nông thôn. Có người tham gia những chuỗi sản xuất công nghệ cao. Chính sách tốt không áp đặt một con đường duy nhất, mà phải mở rộng không gian lựa chọn và khả năng dịch chuyển của người dân.
Theo nghĩa đó, mục tiêu cuối cùng không phải là bảo vệ một hình ảnh bất biến về người nông dân, mà là làm cho người nông dân mạnh hơn trong quá trình hiện đại hóa. Và từ góc độ chính sách công, tôi cho rằng cách đánh giá cũng phải thay đổi. Không nên chỉ hỏi đã hỗ trợ bao nhiêu hộ, tổ chức bao nhiêu lớp tập huấn hay xây dựng bao nhiêu mô hình. Phải hỏi sâu hơn: người dân có tiếp cận thông tin tốt hơn không; có tham gia vào quyết định nhiều hơn không; khả năng tự tổ chức và thương lượng có được nâng lên không; thu nhập và quyền lợi trong chuỗi giá trị có tốt hơn không; khi chương trình hỗ trợ kết thúc họ có tự duy trì được mô hình hay không.
Đó mới là những chỉ báo cho thấy năng lực làm chủ đang thực sự được hình thành.
Vì vậy, theo tôi, bước chuyển quan trọng trong giai đoạn tới là từ "chính sách cho nông dân" sang "chính sách cùng nông dân", từ coi người dân là đối tượng tiếp nhận chính sách sang coi họ là một chủ thể cùng tạo ra chính sách, cùng lựa chọn vấn đề, cùng quyết định, cùng tham gia tổ chức thực hiện, tham gia quá trình quản trị và cùng chịu trách nhiệm đối với kết quả của chính sách. Nếu Nghị quyết số 19 năm 2022 đặt người nông dân vào vị trí chủ thể, trung tâm, thì trong bối cảnh đổi mới mô hình phát triển hiện nay, yêu cầu cao hơn là phải chuyển vị thế ấy thành năng lực: Năng lực tiếp cận thông tin, năng lực lựa chọn, năng lực quyết định, năng lực tổ chức, năng lực thương lượng giải tỏa xung đột, năng lực giám sát và năng lực thích ứng. Khi đó, "Nhân dân làm chủ" mới không chỉ là một nguyên tắc chính trị, mà trở thành động lực vận hành của mô hình phát triển. Và tôi cho rằng đây chính là một trong những điều kiện quan trọng để nguồn lực của "tam nông" được chuyển hóa thành năng lực phát triển của quốc gia.
2.2. Từ vốn xã hội truyền thống đến năng lực hợp tác của cộng đồng hiện đại
- Một nguồn lực rất đặc biệt của nông thôn Việt Nam là cộng đồng, làng xã, quan hệ tương trợ, tri thức bản địa và lòng tin giữa con người với con người. Nhưng trong quá trình thị trường hóa, đô thị hóa và chuyển đổi số, những cấu trúc cộng đồng truyền thống cũng đang thay đổi rất nhanh. Theo Giáo sư, làm thế nào để những giá trị cộng đồng ấy không chỉ được "bảo tồn", mà được chuyển hóa thành một dạng năng lực phát triển mới của nông thôn?
GS.TSKH. Phan Xuân Sơn: Đây là một trong những nguồn lực sâu nhất của nông thôn Việt Nam, nhưng lâu nay khi nói về nguồn lực phát triển, chúng ta thường dễ nhìn thấy đất đai, vốn, lao động, hạ tầng hơn là những nguồn lực vô hình như lòng tin, khả năng hợp tác, tinh thần cộng đồng, những chuẩn mực ứng xử và tri thức được tích lũy qua nhiều thế hệ.
Trong khoa học xã hội, có thể gọi đó là vốn xã hội. Nhưng với nông thôn Việt Nam, vốn xã hội không phải một khái niệm xa lạ. Nó hiện diện trong chính đời sống làng xã từ rất lâu. Người Việt có câu "Bán anh em xa, mua láng giềng gần", hay "Tối lửa tắt đèn có nhau". Khi gặp khó khăn thì "lá lành đùm lá rách", còn khi làm việc lớn thì "một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao". Những câu tục ngữ ấy không chỉ phản ánh tình cảm hay đạo lý; phía sau nó là cả một cơ chế xã hội để cộng đồng tồn tại và vượt qua rủi ro trong điều kiện mỗi hộ gia đình riêng lẻ rất nhỏ bé trước thiên tai, mùa màng, bệnh tật hay những biến động của đời sống. Nông thôn Việt Nam có một nguồn vốn xã hội vô cùng to lớn và bền vững. Nguồn vốn đó có thể gọi là "cố kết cộng đồng", có thể gọi là "chủ nghĩa cộng đồng"…Nguồn vốn đó là nền tảng của tồn tại và phát triển của dân tộc từ xưa đến nay cần phải giữ gìn và phát huy như là một phương thức quản trị phát triển cốt lõi của quốc gia.
Nông nghiệp truyền thống đã làm cho nhu cầu hợp tác trở nên mạnh hơn. Một hộ có thể tự cấy trên thửa ruộng của mình, nhưng không thể một mình đắp đê, đào mương, dẫn nước hay bảo vệ cả một cánh đồng. Muốn chống lũ phải cả làng cùng làm; muốn dẫn nước vào đồng phải thống nhất lịch lấy nước; muốn bảo vệ mùa màng phải có những quy ước mà mọi người cùng tuân thủ. Chính trong những hoạt động ấy đã hình thành một năng lực rất quan trọng của làng xã Việt Nam: năng lực hành động tập thể.
Nói theo ngôn ngữ hiện đại, nhiều công việc của nông thôn là những công việc mà lợi ích mang tính cộng đồng, nhưng chi phí lại đòi hỏi từng người phải cùng đóng góp. Nếu ai cũng chờ người khác làm thì cuối cùng không ai làm được. Vì thế, cộng đồng phải tạo ra những quy tắc, uy tín, trách nhiệm và cả sức ép xã hội để mọi người cùng hành động. Đó là lý do làng Việt từ xa xưa đã có hương ước, lệ làng, các phường, hội, giáp, những hình thức đổi công, tương trợ, cùng quản lý đình, chùa, giếng nước, đường làng, đồng ruộng. Đương nhiên, không nên lý tưởng hóa tất cả các thiết chế truyền thống ấy; trong đó có những yếu tố không còn phù hợp với xã hội hiện đại. Nhưng xét từ góc độ chính trị học, chúng cho thấy một điều rất đáng chú ý: cộng đồng nông thôn Việt Nam từng có khả năng tự đặt ra quy tắc, tự tổ chức công việc chung và tự điều chỉnh những quan hệ bên trong cộng đồng ở một mức độ khá cao.
Ngay cả câu "phép vua thua lệ làng" cũng cần nhìn hai mặt. Một mặt, nó từng phản ánh sức sống và mức độ tự quản rất lớn của cộng đồng làng xã. Nhưng mặt khác, nó cũng cảnh báo về nguy cơ cục bộ, khép kín, thậm chí có những quy tắc cộng đồng đi ngược lại pháp luật hoặc lợi ích chung. Trong xã hội hiện đại, đương nhiên không thể để "lệ làng" đứng trên pháp luật. Nhưng điều rất đáng suy nghĩ là năng lực tự tổ chức của cộng đồng mà lịch sử để lại thì không nên bị mất đi. Cái cần làm không phải xóa bỏ khả năng tự quản, mà pháp luật quốc gia kiến tạo cho tự quản trở thành tự quản văn minh và pháp quyền là đặt nó trong sự tương thích lẫn nhau giữa "phép vua" và "lệ làng", giữa hương ước và pháp luật, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Tôi cho rằng đây chính là một bước chuyển rất quan trọng: từ "lệ làng" sang quản trị cộng đồng, quản trị địa phương, quản trị quốc gia hiện đại.
Những hương ước, quy ước ngày nay phải phù hợp với pháp luật; những quyết định liên quan tới cộng đồng phải có sự tham gia của người dân; lợi ích và nghĩa vụ phải minh bạch; những nhóm yếu thế cũng phải có tiếng nói. Khi đó, sức mạnh tự quản truyền thống không mất đi mà được nâng lên bằng thể chế hiện đại.
Một điểm nữa cần lưu ý là vốn xã hội truyền thống của nông thôn Việt Nam chủ yếu dựa trên lòng tin giữa những người quen biết nhau: cùng họ, cùng làng, cùng nghề, cùng cộng đồng. Đây là một dạng liên kết rất quan trọng, bởi nó tạo ra sự tương trợ rất mạnh bên trong cộng đồng. Nhưng trong nền kinh tế hiện đại, chỉ loại lòng tin đó là chưa đủ. Một sản phẩm nông nghiệp hôm nay có thể đi từ một hộ nông dân tới hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến, ngân hàng, đơn vị logistics, sàn thương mại điện tử rồi tới một thị trường cách hàng nghìn kilômét. Phần lớn những người trong chuỗi ấy không hề quen biết nhau. Vì vậy, lòng tin truyền thống phải được mở rộng thành lòng tin thể chế.
Người nông dân giao hàng cho doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào "tin nhau"; phải có hợp đồng rõ ràng. Người mua một sản phẩm không thể chỉ nghe danh tiếng của một làng nghề; phải có tiêu chuẩn, truy xuất và kiểm định. Các thành viên hợp tác xã không thể chỉ dựa vào tình làng nghĩa xóm; phải có điều lệ, hệ thống kế toán, cơ chế chia lợi ích và trách nhiệm minh bạch. Đó chính là quá trình chuyển từ lòng tin dựa trên quan hệ cá nhân sang lòng tin dựa trên những thiết chế đáng tin cậy.
Nhưng hai loại lòng tin này không loại trừ nhau. Một xã hội tốt cần cả hai. Nếu chỉ có hợp đồng mà hoàn toàn thiếu lòng tin thì chi phí kiểm soát sẽ rất lớn. Nhưng nếu chỉ có tình cảm mà thiếu luật lệ, tiêu chuẩn và trách nhiệm thì quan hệ hợp tác rất dễ đổ vỡ khi lợi ích thay đổi. Vì vậy, theo tôi, một yêu cầu quan trọng của nông thôn hiện đại là kết hợp vốn xã hội truyền thống với thể chế hiện đại.
Chẳng hạn, tinh thần "ba cây chụm lại" ngày nay có thể được chuyển hóa thành một hợp tác xã thực chất. Hợp tác xã không chỉ là một đơn vị kinh tế đăng ký theo luật, mà phải là nơi những hộ nhỏ tập hợp được nhu cầu, cùng sử dụng máy móc, cùng mua đầu vào, cùng kiểm soát chất lượng, cùng tiếp cận dữ liệu và cùng thương lượng với doanh nghiệp. Hay một làng nghề vốn có uy tín hàng trăm năm không nên chỉ dừng ở việc "giữ nghề". Uy tín ấy có thể trở thành tài sản thương hiệu cộng đồng, được bảo vệ bằng chỉ dẫn địa lý, tiêu chuẩn chất lượng, hệ thống truy xuất và cơ chế quản trị chung. Khi ấy, một giá trị văn hóa được chuyển hóa thành năng lực kinh tế.
Tri thức bản địa cũng vậy. Người dân có thể biết rất rõ thửa đất nào giữ nước, mùa nào phù hợp với giống nào, dấu hiệu nào báo thời tiết thay đổi, loại cây nào phù hợp với một tiểu vùng sinh thái. Khoa học hiện đại không nên phủ nhận những kinh nghiệm ấy; điều đúng đắn hơn là kiểm chứng, số hóa và kết nối chúng với dữ liệu khoa học.
Khi đó, tri thức truyền đời không còn chỉ nằm trong ký ức của một vài người cao tuổi mà có thể trở thành một phần của năng lực quản trị đất đai, nước, giống và hệ sinh thái. Tương tự, những cộng đồng cùng quản lý rừng, nguồn nước hay cảnh quan cũng có thể tiến từ những cam kết đạo lý sang những thỏa thuận quản trị có quyền, nghĩa vụ, giám sát và chia sẻ lợi ích rõ ràng. Đó chính là cách biến vốn xã hội thành năng lực phát triển.
Tôi muốn nhấn mạnh thêm rằng vốn xã hội không phải lúc nào cũng chỉ tạo ra mặt tích cực. Một cộng đồng rất gắn bó bên trong đôi khi lại có thể khép kín với người bên ngoài. Quan hệ thân quen nếu thiếu minh bạch có thể biến thành cục bộ, "xin - cho", ưu ái người quen. Những chuẩn mực cộng đồng đôi khi cũng có thể tạo sức ép đối với cá nhân có ý tưởng khác biệt. Vì vậy, chính trị học hiện đại không chỉ hỏi cộng đồng có đoàn kết không, mà còn phải hỏi: sự đoàn kết ấy có mở không, có công bằng không, có tôn trọng pháp luật và quyền của mỗi thành viên không?
Theo tôi, vốn xã hội của nông thôn trong mô hình phát triển mới phải được mở rộng theo ba hướng. Thứ nhất là gắn kết bên trong cộng đồng - để người dân có thể tương trợ và cùng hành động. Thứ hai là kết nối cộng đồng với các cộng đồng và chủ thể khác - doanh nghiệp, nhà khoa học, ngân hàng, thị trường, xã hội đô thị và quốc tế. Và thứ ba là kết nối người dân với các thiết chế công quyền, để nhu cầu từ cơ sở có thể đi vào quá trình hoạch định chính sách, đồng thời chính sách của Nhà nước có thể đến với người dân một cách đáng tin cậy. Những mối quan hệ chằng chịt giữa các chủ thể khái quát lại cũng là mối quan hệ giữa nhà nước – thị trường - xã hội. Là một trụ cột căn bản của quản trị quốc gia.
Nếu chỉ mạnh liên kết bên trong mà yếu hai loại kết nối sau, làng xã rất dễ trở thành một "ốc đảo xã hội". Nhưng nếu làm được cả ba, cộng đồng sẽ trở thành một nút của mạng lưới phát triển lớn hơn. Ở đây, lòng tin là yếu tố then chốt. Một hợp tác xã khó phát triển nếu thành viên nghi ngờ ban quản trị. Doanh nghiệp khó ký hợp đồng dài hạn nếu lo người dân phá vỡ cam kết khi giá biến động. Nông dân cũng khó đầu tư theo tiêu chuẩn mới nếu không tin doanh nghiệp sẽ mua sản phẩm như đã thỏa thuận. Chính quyền khó vận động người dân dành đất, thay đổi phương thức sản xuất hay tham gia một chương trình mới nếu người dân không tin rằng lợi ích của mình sẽ được bảo đảm. Nhưng lòng tin không thể được tạo ra chỉ bằng lời kêu gọi. Lòng tin được tích lũy từ những cam kết được thực hiện.
Nói chính sách ổn định thì chính sách phải ổn định. Đã ký hợp đồng thì phải tôn trọng hợp đồng. Đã hứa chia sẻ lợi ích thì cơ chế phân chia phải minh bạch. Khi có khiếu nại phải có nơi giải quyết. Khi người dân góp ý phải có phản hồi. Theo nghĩa đó, lòng tin vừa là một giá trị văn hóa, vừa là một sản phẩm của chất lượng thể chế.
Tôi cho rằng đây là điểm rất quan trọng đối với chính sách công. Nhà nước không thể "ban hành" lòng tin bằng một văn bản. Nhưng Nhà nước có thể tạo ra những thiết chế khiến con người có lý do để tin nhau: luật chơi rõ ràng, thông tin minh bạch, quyền được bảo vệ, cam kết được thực thi và người có trách nhiệm phải giải trình. Khi đó, vốn xã hội sẽ làm giảm rất nhiều chi phí của phát triển. Các bên không phải dành quá nhiều nguồn lực để phòng ngừa lẫn nhau; hợp tác hình thành nhanh hơn; sáng kiến dễ lan tỏa hơn; những nguồn lực nhỏ có thể tập hợp thành nguồn lực lớn. Và đây chính là lý do tôi cho rằng, trong mô hình phát triển mới, không nên nhìn cộng đồng chỉ như một "đối tượng bảo tồn văn hóa".
Cộng đồng phải được nhìn như một chủ thể phát triển. Một cộng đồng có khả năng tự tổ chức, có lòng tin, có thiết chế đại diện, biết kết nối với doanh nghiệp, khoa học và Nhà nước sẽ có khả năng giải quyết những vấn đề mà từng hộ riêng lẻ không thể giải quyết. Khi đó, những giá trị rất cũ của làng quê Việt Nam có thể mang một ý nghĩa hoàn toàn mới.
"Tối lửa tắt đèn có nhau" không chỉ còn là sự tương trợ khi hoạn nạn, mà có thể trở thành năng lực cùng quản trị rủi ro. "Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao" không chỉ là lời khuyên về đoàn kết, mà có thể trở thành năng lực hợp tác kinh tế. "Bán anh em xa, mua láng giềng gần" không chỉ nói về tình làng nghĩa xóm, mà nhắc chúng ta rằng chất lượng của những quan hệ gần gũi vẫn là một phần rất quan trọng của chất lượng sống và sức chống chịu của cộng đồng. Nhưng trên nền tảng ấy, nông thôn Việt Nam phải tiến thêm một bước: từ tình làng nghĩa xóm đến năng lực hợp tác, từ uy tín cộng đồng đến thương hiệu, từ tri thức bản địa đến dữ liệu, từ hương ước truyền thống đến quản trị cộng đồng hiện đại, và từ lòng tin giữa người với người đến lòng tin vào thể chế.
Theo tôi, đó chính là cách chúng ta không chỉ "bảo tồn" vốn xã hội của nông thôn, mà chuyển hóa vốn xã hội thành năng lực phát triển. Và một nông thôn hiện đại, xét đến cùng, không phải là nơi những mối quan hệ cộng đồng bị thay thế bởi thị trường và công nghệ. Đó phải là nơi những giá trị tốt đẹp của cộng đồng được hoàn thiện và thích ứng nhờ pháp luật, khoa học, công nghệ và thể chế hiện đại, để con người vừa giữ được sự gắn kết, vừa có khả năng hợp tác ở quy mô lớn hơn. Tôi cho rằng khi đó Việt Nam sẽ có nông nghiệp, nông thôn, nông dân vừa hiện đại, văn minh, vừa giữ được bản sắc và sức mạnh nội sinh của mình.
2.3. Nhà nước kiến tạo phải mở rộng không gian cho sáng kiến và khả năng tự tổ chức từ cơ sở
- Một vấn đề xuyên suốt chuyên đề là tổ chức thực hiện. Nếu quá nhấn mạnh quản lý từ trên xuống, rất dễ hành chính hóa quá trình phát triển; nhưng nếu chỉ giao cho thị trường và cộng đồng tự vận động thì cũng có thể xuất hiện bất bình đẳng, phân mảnh và những nhóm yếu thế bị bỏ lại. Theo Giáo sư, cần xác lập quan hệ giữa sự lãnh đạo, quản lý của Nhà nước và quyền chủ động của người dân, cộng đồng như thế nào trong hệ sinh thái "tam nông" mới?
GS.TSKH. Phan Xuân Sơn: Tôi cho rằng phải tránh hai cực.
Một cực là Nhà nước làm thay quá nhiều, từ lựa chọn mô hình đến quyết định người dân trồng cây gì, nuôi con gì, tổ chức sản xuất ra sao. Cách làm đó có thể tạo ra kết quả trong ngắn hạn, nhưng dễ hình thành sự phụ thuộc vào chương trình và nguồn hỗ trợ. Khi chính sách kết thúc, động lực nội sinh yếu thì mô hình cũng khó tự duy trì.
Cực kia là cho rằng thị trường và cộng đồng có thể tự giải quyết mọi vấn đề. Thực tế, thị trường không tự cung cấp đầy đủ những hàng hóa và điều kiện phát triển có tính công cộng như hạ tầng dùng chung, dữ liệu, bảo vệ môi trường, phòng ngừa rủi ro, dịch vụ cơ bản hay bảo đảm cơ hội phát triển cho những địa bàn và nhóm yếu thế.
Vì vậy, vấn đề không phải là Nhà nước nhiều hay ít, mà là Nhà nước làm đúng việc gì, ở cấp nào và bằng công cụ nào.
Theo tôi, Nhà nước phải đủ mạnh ở những chức năng mà các chủ thể khác không thể làm thay: xác lập luật chơi, bảo đảm quyền tài sản và quyền lợi chính đáng của người dân, xây dựng hạ tầng và dữ liệu dùng chung, cung cấp dịch vụ công thiết yếu, bảo vệ cạnh tranh lành mạnh, xử lý những thất bại của thị trường và bảo đảm rằng không có cộng đồng nào bị bỏ lại phía sau.
Nhưng Nhà nước càng mạnh ở việc thiết lập nền tảng chung thì càng phải mở rộng không gian chủ động cho xã hội. Với những vấn đề liên quan trực tiếp đến sinh kế, mô hình sản xuất và cách khai thác lợi thế địa phương, người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và cộng đồng phải có khả năng lựa chọn phương án phù hợp, thay vì thụ động thực hiện một mô hình đã được thiết kế từ trên xuống.
Đây cũng là vấn đề phân cấp, phân quyền. Trung ương cần xác lập mục tiêu chiến lược, chuẩn mực tối thiểu và những nguyên tắc phải bảo đảm; nhưng địa phương phải có không gian lựa chọn công cụ và cách tổ chức thực hiện phù hợp với điều kiện của mình. Một vùng miền núi không thể phát triển giống một vùng ven đô; vùng chuyên canh lúa không thể áp cùng mô hình với vùng cây ăn quả, vùng rừng hay vùng ven biển.
Tuy nhiên, phân quyền không đồng nghĩa với buông lỏng. Quyền hạn phải đi cùng nguồn lực, năng lực thực thi và trách nhiệm giải trình. Nếu giao thêm quyền mà không có con người, dữ liệu và nguồn lực tương ứng thì địa phương khó làm; ngược lại, có quyền mà không xác định rõ trách nhiệm về kết quả thì rất dễ dẫn tới phân tán và cục bộ.
Tôi cho rằng đây cũng là yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo trong điều kiện mới. Lãnh đạo không có nghĩa là quyết định thay mọi chủ thể hay can thiệp vào từng công việc cụ thể. Năng lực lãnh đạo phải thể hiện ở khả năng xác định đúng hướng đi, lựa chọn đúng ưu tiên, tạo đồng thuận và tổ chức các chủ thể cùng hành động.
Nếu một địa phương có mười vấn đề nhưng nguồn lực chỉ đủ giải quyết ba, thì năng lực lãnh đạo không nằm ở việc ban hành mười chương trình, mà ở việc xác định đúng ba điểm nghẽn mà khi tháo gỡ sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa lớn nhất.
Từ góc độ chính sách công, điều đó có nghĩa phải chuyển dần từ quản lý theo đầu vào và nhiệm vụ sang quản trị theo mục tiêu, kết quả và tác động. Không chỉ hỏi đã chi bao nhiêu tiền, xây bao nhiêu công trình hay ban hành bao nhiêu văn bản, mà phải hỏi người dân có thêm thu nhập không, hợp tác xã có mạnh lên không, doanh nghiệp có đầu tư dài hạn hơn không, chất lượng môi trường và dịch vụ công có được cải thiện không.
Một yêu cầu nữa là phải tạo cơ chế để sáng kiến từ cơ sở có thể đi lên. Nhiều đổi mới trong nông nghiệp và nông thôn không bắt đầu từ một đề án lớn, mà từ người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp hoặc một cán bộ địa phương nhìn ra vấn đề và dám thử một cách làm khác.
Nhà nước cần có khả năng nhận diện, tạo không gian thử nghiệm có kiểm soát, đánh giá bằng kết quả và nhân rộng có chọn lọc. Không nên biến một mô hình thành công ở một nơi thành công thức áp dụng đồng loạt cho mọi địa phương, bởi giá trị của một mô hình không nằm ở hình thức bên ngoài mà ở những điều kiện đã làm cho nó thành công.
Tôi cho rằng quan hệ giữa Nhà nước và xã hội trong mô hình phát triển mới vì thế phải được xây dựng theo nguyên tắc: Nhà nước định hướng nhưng không áp đặt; kiến tạo nhưng không làm thay; trao quyền nhưng không buông trách nhiệm; mở không gian cho sáng kiến nhưng vẫn bảo đảm kỷ cương, công bằng và lợi ích công.
Như vậy, Nhà nước kiến tạo không phải là một Nhà nước đứng ngoài quá trình phát triển. Ngược lại, đó phải là một Nhà nước đủ năng lực để thiết lập trật tự và những điều kiện phát triển chung, đủ linh hoạt để chấp nhận sự khác biệt của thực tiễn, và đủ cởi mở để xã hội phát huy khả năng tự tổ chức, sáng tạo và chịu trách nhiệm.
Theo tôi, khi thiết lập được quan hệ ấy, sức mạnh phát triển sẽ không chỉ đến từ năng lực của bộ máy nhà nước, mà còn từ khả năng Nhà nước đánh thức, kết nối và làm cho năng lực của người dân, doanh nghiệp và cộng đồng được phát huy. Đó mới là ý nghĩa đầy đủ của Nhà nước kiến tạo trong hệ sinh thái "tam nông" mới.
2.4. Đột phá 2026-2030: Thể chế hóa sự tham gia thực chất và xây dựng lòng tin phát triển
- Nếu phải lựa chọn một đột phá từ góc độ chính trị - xã hội trong giai đoạn 2026-2030 để giúp những nguồn lực của "tam nông" thực sự chuyển hóa thành năng lực phát triển, Giáo sư sẽ ưu tiên điều gì? Và trong quá trình đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng các tổ chức xã hội, nghề nghiệp có thể đóng vai trò như thế nào?
GS.TSKH. Phan Xuân Sơn: Nếu nhìn từ góc độ chính trị - xã hội, tôi cho rằng một đột phá rất quan trọng trong giai đoạn tới là thể chế hóa sự tham gia thực chất của người dân và cộng đồng vào quá trình phát triển, đồng thời xây dựng được cơ chế phản hồi và trách nhiệm giải trình đủ hiệu quả.
Chúng ta đã nói nhiều đến phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Vấn đề bây giờ là phải biến nguyên tắc đó thành những quy trình và thiết chế cụ thể.
Người dân phải có điều kiện tiếp cận thông tin trước khi một quyết định ảnh hưởng đến họ được ban hành; có kênh để tham gia góp ý; có khả năng giám sát quá trình thực hiện; và khi chính sách không phù hợp thì phải có cơ chế phản ánh để cơ quan có trách nhiệm xem xét, điều chỉnh.
Điều này rất quan trọng đối với "tam nông", bởi phần lớn các chính sách đều tác động trực tiếp tới đời sống: Từ đất đai, quy hoạch, vùng sản xuất, môi trường đến đầu tư hạ tầng hay tổ chức chuỗi giá trị.
Theo tôi, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam và các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp có thể đảm nhiệm một vị trí rất quan trọng trong quá trình này.
Không nên chỉ nhìn các tổ chức ấy như lực lượng tuyên truyền, vận động. Trong mô hình phát triển hiện đại, họ còn có thể trở thành một hạ tầng xã hội của đối thoại, đồng thuận và phản hồi chính sách.
Mặt trận và các tổ chức thành viên có điều kiện gần dân, hiểu những vấn đề phát sinh từ cơ sở, tập hợp được những nhóm lợi ích khác nhau. Vì vậy, họ có thể tham gia vào quá trình lắng nghe, tổng hợp ý kiến, phản biện xã hội, giám sát thực thi và đặc biệt là góp phần hòa giải những khác biệt lợi ích trước khi chúng trở thành xung đột lớn hơn.
Các hiệp hội nghề nghiệp cũng vậy. Họ phải là cầu nối giữa thực tiễn sản xuất với quá trình hoạch định chính sách; không chỉ kiến nghị chung chung mà phải tập hợp được bằng chứng, chỉ ra điểm nghẽn và cùng cơ quan quản lý đề xuất giải pháp khả thi.
Một vấn đề quan trọng khác là phải thay đổi cách đánh giá kết quả. Không thể chỉ đo bằng số hội nghị đã tổ chức, số người được vận động hay số văn bản được phổ biến. Cần nhìn vào những kết quả sâu hơn: người dân có tiếp cận thông tin tốt hơn không; có tham gia vào những quyết định liên quan trực tiếp tới mình không; phản ánh của họ có được xử lý không; các chủ thể có tin tưởng và sẵn sàng hợp tác dài hạn hơn không; lợi ích có được chia sẻ minh bạch hơn không.
Tôi cho rằng đồng thuận xã hội không phải là tất cả mọi người đều có cùng lợi ích hay cùng quan điểm. Trong một xã hội phát triển, lợi ích khác nhau là điều bình thường. Nhưng giữa những lợi ích khác nhau đó bao giờ cũng tồn tại một lợi ích chung. Đó là lợi ích quốc gia, dân tộc. Đồng thuận thực chất là khi các chủ thể tin vào một luật chơi, vừa bảo vệ được lợi ích chung vừa có thể hiện thực hóa các lợi ích riêng khác nhau; có cơ chế để trình bày lợi ích của mình và chấp nhận kết quả bởi họ thấy quá trình ra quyết định là minh bạch, công bằng và có trách nhiệm.
Khi người nông dân thấy tiếng nói của mình có giá trị, khi doanh nghiệp tin chính sách ổn định, khi cộng đồng thấy đóng góp của mình được ghi nhận và lợi ích được chia sẻ hợp lý, thì lòng tin sẽ trở thành một nguồn lực.
Và tôi cho rằng đó chính là một dạng năng lực phát triển rất quan trọng nhưng khó nhìn thấy bằng những con số thông thường: năng lực hợp tác của xã hội.
Một đất nước muốn phát triển nhanh không chỉ cần nhiều vốn, nhiều công nghệ hay nhiều doanh nghiệp lớn. Nó còn cần một xã hội có khả năng cùng nhau hành động vì những mục tiêu chung.
PHẦN III
ĐỘT PHÁ 2: DOANH NGHIỆP DÂN TỘC DẪN DẮT MẠNG LƯỚI SẢN XUẤT CÙNG TRƯỞNG THÀNH
Từ khả năng cùng hành động của cộng đồng, câu chuyện tiếp tục được đặt trong quan hệ với doanh nghiệp và thị trường. Một liên kết có thể giúp nông dân bán được sản phẩm, nhưng giá trị lâu dài của liên kết còn nằm ở những gì người tham gia học được, làm được và tự quyết định được sau mỗi mùa vụ. Ở phương diện này, câu hỏi dành cho doanh nghiệp dẫn dắt không dừng ở quy mô đầu tư hay số hộ ký hợp đồng, mà đi tới khả năng làm cho cả mạng lưới sản xuất cùng trưởng thành.
3.1. Đầu tư phải làm nền sản xuất có thêm năng lực
- Thưa Tiến sĩ Võ Trí Thành, trong quá trình đổi mới mô hình phát triển, tăng thêm vốn, công trình hay máy móc chưa chắc đã tạo ra kết quả tương xứng. Với "tam nông", cần tổ chức và sử dụng nguồn lực như thế nào để nâng năng suất, tạo thêm giá trị và cải thiện đời sống người dân?
TS. Võ Trí Thành: Tôi nghĩ, câu hỏi cần đặt ra không chỉ là chúng ta có thêm bao nhiêu nguồn lực, mà là sau mỗi khoản đầu tư, người nông dân, doanh nghiệp và cả nền sản xuất làm được thêm những gì. Nông nghiệp, nông thôn vẫn cần đầu tư. Không thể nói đổi mới cách làm rồi coi nhẹ nhu cầu về vốn, hạ tầng hay khoa học, công nghệ. Nhưng tiền nhiều hơn, máy móc nhiều hơn chưa chắc đã tạo ra hiệu quả tương ứng. Một vùng sản xuất có đường tốt mà thiếu bảo quản, một hợp tác xã có máy nhưng chưa đủ nhu cầu sử dụng, một doanh nghiệp có nhà máy nhưng nguồn nguyên liệu không ổn định… thì rõ ràng, vấn đề không còn nằm riêng ở lượng vốn.
Điều đáng bàn là các khoản đầu tư có bổ trợ cho nhau hay không. Đường giao thông phải kết nối được vùng sản xuất với thị trường. Công nghệ phải phù hợp với trình độ người sử dụng và quy mô kinh doanh. Đào tạo phải giúp người dân giải quyết được công việc thực tế. Không thể đầu tư từng thứ riêng rẽ, sau đó mới tìm cách ghép chúng lại và kỳ vọng sẽ có một hệ sinh thái tốt.
Tôi cũng muốn nói thêm về năng suất. Trong nông nghiệp, chúng ta dễ quan tâm đến sản lượng trên một đơn vị diện tích. Điều đó quan trọng, nhưng chưa đủ. Thu được nhiều hơn mà chi phí tăng nhanh hơn, sử dụng quá nhiều vật tư, chất lượng không ổn định hoặc bán hàng khó hơn thì người sản xuất chưa chắc đã khá lên. Cần nhìn cả năng suất lao động, hiệu quả sử dụng đất, nước, vốn và phần thu nhập còn lại sau chi phí.
Ngay cả thu nhập tăng cũng cần xem tăng vì đâu. Do làm tốt hơn, giảm được tổn thất, nâng chất lượng, hay chủ yếu do giá thị trường thuận lợi trong một thời điểm? Những kết quả ấy đều đáng ghi nhận, nhưng ý nghĩa đối với năng lực phát triển lâu dài không giống nhau. Có một yếu tố nữa thường quyết định việc người dân có tiếp tục đổi mới hay không: họ có nhìn thấy lợi ích đủ rõ và đủ tin cậy không? Người nông dân khó đầu tư dài hạn nếu chưa biết sản phẩm đạt chuẩn sẽ được mua như thế nào. Doanh nghiệp cũng khó mở rộng chế biến nếu không có vùng nguyên liệu ổn định. Chính sách cần giúp giải quyết những trở ngại ấy, tạo điều kiện để các bên cùng đầu tư, chứ không làm thay quyết định kinh doanh.
Đổi mới mô hình phát triển, theo tôi, không đơn thuần là làm nhiều hơn những việc đang làm, mà là tạo ra giá trị tốt hơn bằng một cách tổ chức hiệu quả hơn. Với "tam nông", giá trị ấy phải thể hiện ở sức cạnh tranh của sản xuất, đời sống người dân và khả năng gìn giữ những nguồn lực cho tương lai.
TS. Võ Trí Thành, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh.
3.2. Doanh nghiệp dẫn dắt phải làm những người đi cùng cũng trưởng thành
- Trong tuyến bài này, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến sức lan tỏa của doanh nghiệp. Theo ông, cần nhìn vào những thay đổi nào ở hợp tác xã, nhà cung ứng và người nông dân để nhận diện một liên kết có giá trị phát triển lâu dài?
TS. Võ Trí Thành: Tôi rất đồng tình với việc tuyến bài đặt trọng tâm vào sức lan tỏa. Nhưng để khái niệm này có giá trị, chúng ta phải nói rõ lan tỏa cái gì và đến với ai. Một doanh nghiệp mở rộng thu mua, tạo thêm việc làm, làm tăng nhu cầu vận tải hay dịch vụ là đã có tác động tích cực. Không nên xem nhẹ những tác động đó. Tuy nhiên, nếu dừng ở quy mô giao dịch thì chưa thấy hết ý nghĩa phát triển.
Tôi quan tâm thêm một câu hỏi: Sau vài năm hợp tác, các đối tác của doanh nghiệp có trưởng thành hơn không? Một hợp tác xã có thêm đơn hàng là điều tốt. Nhưng nếu qua những đơn hàng ấy, hợp tác xã biết quản trị chất lượng tốt hơn, tổ chức dịch vụ hiệu quả hơn và đáp ứng được những yêu cầu trước đây chưa đáp ứng được thì giá trị còn lớn hơn. Người nông dân không chỉ bán được sản phẩm của vụ này, mà có thêm năng lực để làm tốt ở những vụ sau.
Đó là sự khác biệt giữa mở rộng giao dịch và tích lũy năng lực. Hai việc này nên đi cùng nhau, nhưng không tự nhiên đi cùng nhau. Cũng cần tránh một cách hiểu khá máy móc: Chuỗi càng dài, giao dịch càng nhiều thì sức lan tỏa càng lớn. Một công nghệ giúp tiết kiệm phân bón, nước hay năng lượng có thể làm giảm nhu cầu ở một số khâu đầu vào, nhưng lại nâng hiệu quả của người sản xuất và giảm áp lực môi trường. Bớt được một khâu trung gian không tạo thêm giá trị cũng có thể là tiến bộ. Mục tiêu không phải làm cho mọi dòng giao dịch đều lớn hơn, mà là làm cho nguồn lực tạo ra nhiều giá trị hữu ích hơn.
Với doanh nghiệp dẫn dắt, tôi nghĩ cần nhìn từ cả hai phía. Doanh nghiệp phải có lợi ích thì mới đầu tư và gắn bó lâu dài. Nhưng nguồn cung ổn định, đối tác chuyên nghiệp, chất lượng đáng tin cậy cũng chính là lợi ích lâu dài của doanh nghiệp. Hỗ trợ đối tác nâng năng lực không chỉ là trách nhiệm xã hội; nếu được tổ chức tốt, đó còn là một lựa chọn kinh doanh có lợi cho cả chuỗi.
Tất nhiên, không phải mọi tri thức hay dịch vụ đều phải chuyển giao miễn phí. Cần một cơ chế hợp tác hợp lý, để người cung cấp có động lực, người sử dụng thấy hiệu quả và các bên cùng có khả năng phát triển. Điều cần tránh là quan hệ trong đó một bên lớn lên còn những bên khác không có cơ hội nâng năng lực hoặc ngày càng khó lựa chọn.
Nếu sử dụng hỗ trợ của Nhà nước, việc đánh giá càng phải cụ thể. Đừng chỉ hỏi đã liên kết bao nhiêu hộ, tổ chức bao nhiêu lớp đào tạo. Cần hỏi các hộ ấy giảm được tổn thất chưa, chất lượng có ổn định hơn không, thu nhập sau chi phí thay đổi ra sao, kỹ năng mới có được duy trì không. Đồng thời, phải phân biệt kết quả vốn có thể đạt được với phần tiến bộ thực sự nhờ hỗ trợ.
Theo tôi, một doanh nghiệp dẫn dắt có giá trị phát triển lớn khi sự trưởng thành của mình tạo điều kiện cho những người cùng tham gia cũng trưởng thành. Khi đó, thành công không dừng ở một doanh nghiệp mà trở thành sức cạnh tranh của cả mạng lưới sản xuất.
3.3. Khơi dậy khát vọng và năng lực dẫn dắt của doanh nhân Việt Nam
- Thưa Anh hùng Lao động Thái Hương, những quyết sách lớn của Đảng về đổi mới mô hình phát triển, khoa học, công nghệ và kinh tế tư nhân đang mở ra những yêu cầu mới đối với doanh nghiệp. Bà nhìn nhận như thế nào về cơ hội và trách nhiệm của đội ngũ doanh nhân trong phát triển nông nghiệp ở giai đoạn này?
Anh hùng Lao động Thái Hương: "Bộ tứ Nghị quyết trụ cột" do Bộ Chính trị ban hành gồm Nghị quyết số 57, Nghị quyết số 59, Nghị quyết số 66 và Nghị quyết số 68 đã tạo dựng nền móng chiến lược để đất nước cất cánh trong kỷ nguyên mới. Tiếp nối đó là Nghị quyết số 71, Nghị quyết số 72 và nhiều Nghị quyết chiến lược khác, như Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, hợp lực với "bộ tứ trụ cột" để tiếp tục hoàn thiện một khung thể chế - chính sách đồng bộ. Đó là tầm nhìn chiến lược của người đứng đầu và là ý chí của cả hệ thống chính trị đã hòa chung với khát vọng của toàn dân tộc.[2]
Nguồn lực trong xã hội và trong đội ngũ doanh nhân của đất nước ta là rất lớn. Nhiều doanh nhân có tâm, có tầm, đủ bản lĩnh để tiếp nhận và gánh vác trọng trách cùng đất nước. Mỗi chúng ta ai cũng có ước mơ và hoài bão. Nhưng chúng ta phải hun đúc, phải nuôi dưỡng để ước mơ, hoài bão đó thành khát vọng và phải hành động với quyết tâm cao nhất để biến khát vọng thành hiện thực.
Anh hùng Lao động Thái Hương, Nhà sáng lập, Chủ tịch Hội đồng Chiến lược Tập đoàn TH, Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị - Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Bắc Á, Chủ tịch Hiệp hội Nữ doanh nhân Việt Nam, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dữ liệu quốc gia.
Thế giới hiện đại đã có những thành tựu vô cùng to lớn về khoa học, công nghệ, khoa học quản trị, trí tuệ nhân tạo (AI)… "Bộ tứ Nghị quyết trụ cột" và các Nghị quyết hợp lực chiến lược đã nêu ở trên là những quyết sách, những cơ chế, chính sách phù hợp cho từng thời kỳ, cho từng ngành nghề, để dẫn dắt, để khích lệ, để tạo ra những cánh chim đầu đàn trong từng lĩnh vực, để biến khát vọng thành hiện thực, để tạo ra sức mạnh to lớn cho dân tộc, để dân tộc ta sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ từng mong muốn.
Điều quan trọng là cần tiếp tục xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp với lợi thế của đất nước mình, đó là nông nghiệp, trong đó có kinh tế rừng, kinh tế biển, kinh tế đồng bằng. Nhưng tôi muốn nhấn mạnh rằng, cần chú ý phát triển kinh tế rừng ở những địa bàn còn nhiều khó khăn, gắn với các vùng biên "phên giậu" của Tổ quốc.
Cần có chính sách để thu hút đội ngũ doanh nhân và những doanh nghiệp đủ Tâm - Trí - Lực vào lĩnh vực này, đi vào chế biến sâu, xây dựng chuỗi giá trị khép kín. Đồng thời có chính sách đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; đưa người nông dân trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị, dẫn dắt người nông dân xóa đói giảm nghèo bền vững, tiến tới làm giàu, thay đổi ngay trên mảnh đất của chính mình; xây dựng thương hiệu sản phẩm quốc gia, đạt chuẩn quốc tế cho từng sản phẩm...
Nguyên tắc chung là khi phát triển kinh tế ở lĩnh vực nào cũng cần tuân thủ mô hình kinh tế xanh, kinh tế tri thức, kinh tế tuần hoàn trên nền tảng phát triển bền vững. Bên cạnh đó, ngoài việc khích lệ, dẫn dắt, các chính sách còn phải tạo công bằng cho các thành phần kinh tế: Trong nước và ngoài nước, quốc doanh và tư nhân…
Chúng ta cần tạo ra một môi trường đủ an toàn, an toàn ở đây bao gồm cả việc tạo hành lang pháp lý và các luật định phù hợp, thống nhất, không bị chồng chéo, tạo điều kiện tốt nhất hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển; để mọi tầng lớp trong xã hội nói chung và doanh nghiệp nói riêng cùng gánh vác trên vai sứ mệnh xây dựng đất nước ta giàu có và văn minh.
Một doanh nghiệp trưởng thành cùng mạng lưới đối tác sẽ tạo ra sức lan tỏa vượt khỏi các hợp đồng mua bán. Nhưng để sự trưởng thành ấy bền vững, những người tham gia còn phải tích lũy được tri thức, dữ liệu, kỹ năng và khả năng cải tiến. Từ đây, câu chuyện dẫn dắt nối trực tiếp với đột phá về công nghệ.
PHẦN IV
ĐỘT PHÁ 3: DỮ LIỆU VÀ CÔNG NGHỆ PHẢI ĐỂ LẠI NĂNG LỰC LÀM CHỦ
Trong ba cuộc trao đổi, dữ liệu và công nghệ được tiếp cận từ những vị trí bổ sung cho nhau: Thực tiễn vận hành của doanh nghiệp, khả năng sử dụng của nông dân và hợp tác xã, cùng quá trình hấp thụ tri thức qua hợp tác quốc tế. Điểm gặp nhau là hiệu quả của một dự án phải được nhìn cả sau khi thiết bị đã bàn giao: con người có làm tốt hơn không, dịch vụ có tiếp tục vận hành không và năng lực cải tiến có được bồi đắp không?
4.1. Dữ liệu phải đi xuyên suốt chuỗi sản xuất
- Từ thực tiễn của TH, điều gì khiến bà lựa chọn phát triển nông nghiệp dựa trên dữ liệu? Dữ liệu đã thay đổi cách tổ chức sản xuất, quản trị chất lượng và nâng cao năng suất như thế nào?
Anh hùng Lao động Thái Hương: Làm bất kỳ việc gì cũng phải bắt đầu từ tầm nhìn và sứ mệnh mà mình theo đuổi. Với tôi, ngay từ đầu, câu hỏi căn bản nhất luôn là: Làm thế nào để tạo ra những sản phẩm nông nghiệp thật sự tốt cho sức khỏe con người.
Con người là chủ thể của xã hội, là nguồn lực quyết định sự phát triển đất nước. Sự phát triển thể lực, trí lực và tâm hồn của mỗi cá nhân là rất quan trọng. Một quốc gia chỉ vững mạnh khi con người được phát triển toàn diện cả thể lực và trí lực, trong đó yếu tố tiên quyết cho sự phát triển này không chỉ là nguồn dinh dưỡng thiết yếu như lúa, gạo, thực phẩm và các sản phẩm sữa mà còn rất cần có một chế độ chăm sóc sức khỏe bền vững. Đầu tư vào phát triển thể lực và trí lực là phát triển nòi giống của dân tộc, là đầu tư vào phát triển bền vững mang tính chiến lược quốc gia. Với tầm nhìn và sứ mệnh ở trên, khi xây dựng chiến lược và thương hiệu cho TH true MILK, chúng tôi đặt ra 5 giá trị cốt lõi luôn phải kiên trì theo đuổi: "Vì hạnh phúc đích thực", "Vì sức khỏe cộng đồng", "Hoàn toàn từ thiên nhiên", "Tư duy vượt trội và thân thiện với môi trường" và "Hài hòa lợi ích".
Sự cố sữa nhiễm melamine ở Trung Quốc năm 2008 là cú thức tỉnh mạnh mẽ khiến tôi nhận ra một điều then chốt: Muốn có sản phẩm tốt thì phải có dữ liệu. Không thể quản trị cái mình không đo lường được. Dữ liệu phải hiện diện trong mọi mắt xích của sản xuất để tạo ra nguyên liệu đầu vào của sản phẩm, từ giống, thức ăn, thú y, môi trường cho đến quản trị vận hành và logistics... Tôi cũng luôn tin rằng một sản phẩm nông nghiệp khi ra đời phải đạt được tiêu chí cốt lõi: Năng suất lao động cao và chất lượng đạt chuẩn quốc tế... Và để đạt được tiêu chí ấy, con đường tất yếu là đưa khoa học, công nghệ và khoa học quản trị đan xen vào nhau, xây dựng chuỗi sản xuất khép kín từ đồng cỏ đến bàn ăn, ứng dụng đồng bộ các công nghệ 4.0 như trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, dữ liệu lớn vào chăn nuôi, chế biến và quản lý. Kết quả là cụm trang trại bò sữa tập trung công nghệ cao quy mô lớn đã hình thành ngay trên đồng đất Việt Nam.
Trong trồng trọt, TH áp dụng công nghệ thông minh hoàn toàn tự động để tưới tiêu cho các loại cây trồng, vận hành dựa trên dữ liệu thổ nhưỡng, khí tượng và đặc tính sinh trưởng của từng loại cây làm thức ăn cho bò. Ứng dụng thông minh lập trình sẵn thời điểm tưới, lượng nước, chế độ dinh dưỡng, cũng như các thông số tối ưu cho từng giống cây. Nhờ hệ thống cảm biến và phân tích dữ liệu thời gian thực thông qua ứng dụng, tùy vào từng loại cây trồng và dinh dưỡng của vật nuôi, sẽ biết được giờ nào cần tưới cây để bảo đảm độ ẩm tốt nhất; nhờ phân tích dữ liệu sẽ biết được thời điểm nào nên cắt cỏ để đạt được hàm lượng vật chất khô (DM) tối ưu cho đàn bò. Nhờ có ứng dụng thông minh cũng đo lường, phát hiện được tình hình sâu bệnh trên khắp cánh đồng.[3]
Như vậy, nhiều thao tác tưới, bón, điều chỉnh và cảnh báo được hệ thống thông minh hỗ trợ hoặc tự động thực hiện, giúp tăng độ chính xác và giảm lao động thủ công. Cơ giới hóa kết hợp với dữ liệu giúp hoàn thành khối lượng công việc lớn với ít nhân lực hơn. Đó là minh chứng cho sức mạnh của dữ liệu và công nghệ khi được ứng dụng vào thực tiễn nông nghiệp, giúp sản xuất chuẩn xác hơn, hiệu quả hơn, tiết kiệm hơn và bền vững hơn. Tất cả những điều đó đều phải dựa trên cơ sở dữ liệu.
Trong chăn nuôi, dữ liệu đóng vai trò trung tâm trong việc bảo đảm chất lượng sữa và sức khỏe vật nuôi. Thiết bị theo dõi gắn với từng cá thể bò, kết hợp với hệ thống quản lý đàn, giúp theo dõi tình trạng vật nuôi và các chỉ tiêu liên quan đến chất lượng sữa. Sữa sau khi vắt được đưa vào hệ thống thu nhận, làm lạnh và bảo quản theo quy trình kiểm soát chất lượng. Khi xuất hiện chỉ dấu bất thường, trong đó có số lượng tế bào soma tăng, thông tin cảnh báo giúp đội ngũ chuyên môn kiểm tra sức khỏe đàn bò, kiểm soát sữa không đạt yêu cầu và xử lý kịp thời.
Tương tự, dữ liệu về khẩu phần giúp theo dõi việc đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng và điều chỉnh khi cần thiết. Hệ thống còn hỗ trợ phát hiện thời kỳ động dục để đội ngũ thú y lựa chọn thời điểm phối giống phù hợp, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả thụ thai. Những công nghệ này giúp chúng tôi kiểm soát chất lượng sản phẩm, đồng thời nâng cao năng suất lao động và sử dụng chi phí hợp lý.
Tất cả những điều ấy không thể làm được nếu không có dữ liệu. Tôi đã chấp nhận đầu tư hàng trăm triệu đô la để mua bản quyền những thành tựu khoa học, công nghệ hàng đầu thế giới trong chăn nuôi và chế biến sữa. Điều đó xuất phát từ triết lý mà tôi luôn theo đuổi: TH là "True Happiness" - Hạnh phúc đích thực. Bản ngã của người sáng lập Tập đoàn TH: Làm điều gì tốt cho con người chính là hạnh phúc. Và để tạo ra hạnh phúc ấy, chúng tôi phải dám đầu tư, dám đi trước, dám theo đuổi đến cùng con đường dữ liệu.
Từ trồng trọt đến chăn nuôi, khi có dữ liệu, chúng ta có thể kiểm soát toàn bộ quy trình sản xuất, từ giống cây - con, chế độ dinh dưỡng, độ ẩm, khẩu phần, thời gian thu hoạch, đến chăm sóc đàn bò theo trạng thái cá thể. Và chính dữ liệu đã làm nên điều tưởng chừng giản dị mà vô cùng lớn lao: Tạo ra dòng sữa tươi ngon, đặt nền móng cho cuộc cách mạng sữa tươi của Việt Nam.
Nhưng dữ liệu không chỉ dành cho doanh nghiệp. Tất cả các bên trong hệ sinh thái nông nghiệp, từ Nhà nước, nhà khoa học, nông dân, nhà đầu tư, nhà phân phối đều cần dữ liệu để minh bạch, chính xác và liên thông. Khi nông nghiệp đi theo hướng công nghệ cao, khi khoa học, công nghệ, công nghệ số và khoa học quản trị đan xen với nhau, dữ liệu trở thành nền tảng tạo ra sản phẩm hàng hóa có sản lượng lớn, chất lượng cao, ổn định và bền vững, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai và tài nguyên.
Trên cơ sở dữ liệu, ngay từ đầu, TH đã lựa chọn những giống bò có năng suất, chất lượng cao, áp dụng các công thức nuôi dưỡng phù hợp để nâng cao năng suất và chất lượng. Chúng ta cần tiến tới phát triển giống bò cao sản mang thương hiệu Việt Nam. Tất cả những điều đó cho thấy: Khi được tổ chức, quản trị và khai thác đúng cách, dữ liệu có thể tạo ra không chỉ một ly sữa tươi ngon mà còn là cả một cuộc cách mạng trong ngành nông nghiệp Việt Nam.
4.2. Xây dựng dữ liệu để tạo giá trị, không chỉ để có thêm kho lưu trữ
- Từ thực tiễn tiên phong ứng dụng dữ liệu và công nghệ trong nông nghiệp của TH, theo bà, cần làm gì để xây dựng và phát triển hệ sinh thái dữ liệu quốc gia, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, để dữ liệu thực sự trở thành nguồn lực cho phát triển?
Anh hùng Lao động Thái Hương: Dữ liệu là nền tảng quan trọng, là tài nguyên chiến lược của quốc gia, vì vậy phải được tạo lập, quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả theo nguyên tắc "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung". Nhưng xây dựng dữ liệu không phải để có thêm những kho dữ liệu hay những hệ thống công nghệ, mà cuối cùng phải tạo ra giá trị thực cho cơ quan quản lý, cho người dân và doanh nghiệp; phải góp phần hình thành thị trường dữ liệu, thúc đẩy kinh tế số và tạo ra những động lực tăng trưởng mới cho đất nước.
Điều thứ hai, mỗi cơ quan, bộ, ngành, mỗi địa phương phải coi việc xây dựng, cập nhật và làm sạch dữ liệu thuộc lĩnh vực, địa bàn mình quản lý là trách nhiệm của chính mình, chứ không thể xem đó chỉ là nhiệm vụ của cơ quan chuyên trách về công nghệ thông tin hay khoa học, công nghệ. Các bộ, ngành phải chủ động tạo lập, chuẩn hóa các cơ sở dữ liệu chuyên ngành và kết nối, chia sẻ với Trung tâm Dữ liệu quốc gia để khai thác dùng chung theo quy định. Đồng thời, phải khắc phục tình trạng dữ liệu phân tán, cát cứ, không tương thích; hình thành được kỷ luật dùng chung về dữ liệu, hạ tầng số và các nền tảng số dùng chung. Có như vậy dữ liệu mới thực sự được liên thông, được khai thác và chuyển hóa thành nguồn lực phát triển.
Về phía doanh nghiệp, điểm khởi đầu không nằm ở công nghệ hay máy móc mà trước hết là ở tư duy. Doanh nghiệp phải coi dữ liệu là tài nguyên, là tư liệu sản xuất, là nền tảng để tạo ra chất lượng, năng suất và giá thành cạnh tranh; phải sẵn sàng đầu tư, sẵn sàng chia sẻ và minh bạch những dữ liệu cần thiết, sẵn sàng tham gia vào hệ sinh thái và chuỗi giá trị chung cùng Nhà nước và các chủ thể khác. Khi doanh nghiệp có tư duy khoa học, tư duy dữ liệu và tư duy quản trị hiện đại, đồng thời đặt lợi ích của doanh nghiệp trong lợi ích chung của quốc gia và cộng đồng, chúng ta mới có thể phát huy đầy đủ giá trị của dữ liệu.
Cuối cùng, hệ sinh thái dữ liệu không phải là mục tiêu tự thân. Nó phải phục vụ phát triển. Đối với nông nghiệp, hệ sinh thái dữ liệu phải hướng tới nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh quốc tế của nông - lâm - thủy - hải sản Việt Nam; thúc đẩy nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và mang lại thịnh vượng lâu dài cho đất nước.
4.3. Đổi mới sáng tạo phải phù hợp và được duy trì trong thực tế
- Khi bàn về đổi mới sáng tạo trong "tam nông", chúng ta cần nhìn rộng hơn việc đưa công nghệ vào đồng ruộng ra sao? Làm thế nào để hộ nông dân và hợp tác xã tiếp nhận, sử dụng và duy trì được những đổi mới ấy khi dự án hỗ trợ kết thúc?
TS. Võ Trí Thành: Nói đến đổi mới sáng tạo, chúng ta thường hình dung ngay đến công nghệ rất mới, những hệ thống rất hiện đại. Nhưng với người sản xuất, câu hỏi đầu tiên thường giản dị hơn: Cách làm này giúp tôi giải quyết được việc gì, có hiệu quả hơn không và tôi có duy trì được không? Một công nghệ tiên tiến chưa chắc là lựa chọn phù hợp nhất với mọi hộ, mọi vùng sản xuất. Ngược lại, một cải tiến trong cách bảo quản, tổ chức thu hoạch, kiểm soát chất lượng hay cung ứng dịch vụ có thể đem lại hiệu quả thiết thực. Vì thế, cần nhìn đổi mới sáng tạo rộng hơn việc mua máy, dùng phần mềm hay đưa trí tuệ nhân tạo vào một công đoạn.
Điểm cốt yếu là có cách làm mới hoặc được cải tiến rõ rệt, được áp dụng trong thực tế và tạo ra giá trị. Công nghệ có thể mở ra khả năng rất lớn, nhưng để khả năng ấy trở thành kết quả còn cần tổ chức sản xuất, kỹ năng quản trị và thị trường. Không nên tách những điều đó khỏi nhau. Chẳng hạn, với một thiết bị phục vụ nhiều hộ, câu hỏi không nhất thiết là làm sao để mỗi hộ đều mua được. Có thể hiệu quả hơn nếu hợp tác xã hoặc doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, còn người dân trả chi phí sử dụng phù hợp. Khi ấy, đổi mới nằm cả ở công nghệ lẫn cách tổ chức dịch vụ. Chúng ta vừa mở rộng khả năng tiếp cận, vừa tránh tình trạng đầu tư xong nhưng công suất sử dụng thấp.
Và cũng đừng hiểu làm chủ công nghệ là người nông dân phải tự làm mọi thứ. Họ không cần trở thành kỹ sư sửa chữa tất cả thiết bị. Điều cần thiết là hiểu mình cần gì, biết lựa chọn, sử dụng được thông tin để quyết định và kiểm soát được hiệu quả công việc. Khi cần, họ phải có dịch vụ kỹ thuật đáng tin cậy để dựa vào. Biết sử dụng tốt năng lực của người khác cũng là một phần của năng lực kinh doanh.
Bởi vậy, tôi cho rằng một dự án công nghệ phải tính cả quá trình sau khi bàn giao. Ai hướng dẫn người sử dụng? Khi phát sinh vấn đề thì tìm ai? Chi phí vận hành, bảo dưỡng lấy từ đâu? Kết quả có đủ tốt để người dân tiếp tục sử dụng khi hỗ trợ kết thúc không? Những câu hỏi đó phải được trả lời từ đầu, không thể để đến khi máy móc đã đưa xuống rồi mới tính.
Với nghiên cứu ứng dụng, sự tham gia của doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân từ khâu xác định vấn đề rất quan trọng. Còn nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu dài hạn vẫn cần không gian và nguồn lực riêng; không thể yêu cầu mọi nghiên cứu đều phải có doanh thu ngay. Điều chúng ta cần không chỉ là vài mô hình hiện đại để giới thiệu, mà là ngày càng nhiều người có khả năng học hỏi, lựa chọn và cải tiến cách làm của mình. Khi đổi mới trở thành một nhu cầu thường xuyên của sản xuất, thay vì một hoạt động chỉ diễn ra trong thời gian có dự án, lúc đó mới có nền tảng để đi xa.
4.4. Chuyển giao công nghệ phải gắn với một lộ trình hấp thụ
- Thưa Đại sứ, một dự án hợp tác hoặc đầu tư công nghệ trong nông nghiệp cần được thiết kế như thế nào để sau 5-10 năm, đội ngũ Việt Nam có thể vận hành, bảo trì, cải tiến và nhân rộng, thay vì tiếp tục phụ thuộc vào nhà cung cấp?
Đại sứ Vũ Quang Minh: Trước hết cần nhìn nhận một cách cân bằng rằng Việt Nam đã có những doanh nghiệp tiếp nhận và ứng dụng hiệu quả công nghệ quốc tế. Tập đoàn TH là một trường hợp có thể tham khảo về tổ chức sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Trong thông tin về dự án tại Kaluga, TH nêu các đối tác công nghệ như GEA của Đức, cùng các nhà cung cấp từ Israel, Thụy Điển và Hoa Kỳ. Trường hợp này gợi ra vấn đề đáng quan tâm là năng lực lựa chọn và tích hợp nhiều nguồn công nghệ; còn mức độ làm chủ đến đâu phải được đánh giá bằng kết quả vận hành, nhân lực và khả năng cải tiến cụ thể.
Tiếp cận được công nghệ tiên tiến là bước khởi đầu. Điều quyết định hiệu quả dài hạn là sau quá trình tiếp nhận, chúng ta giữ lại và phát triển được bao nhiêu năng lực của chính mình. Mua một dây chuyền hiện đại chưa đồng nghĩa với làm chủ công nghệ. Công nghệ thực sự bao gồm thiết bị, quy trình, dữ liệu, tiêu chuẩn vận hành, kỹ năng con người, năng lực bảo trì, khả năng cải tiến và mạng lưới nhà cung cấp. Nếu sau nhiều năm, những khâu cốt lõi vẫn hoàn toàn phụ thuộc vào chuyên gia hoặc nhà cung cấp nước ngoài thì mức độ làm chủ vẫn còn hạn chế.
Đại sứ Vũ Quang Minh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Campuchia, Vương quốc Anh kiêm nhiệm Ireland và Cộng hòa Liên bang Đức, Phó Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Văn hóa Doanh nghiệp Việt Nam.
Trước khi chọn thiết bị, phải xác định đúng bài toán: giảm thất thoát sau thu hoạch, tiết kiệm nước, nâng chất lượng hay phát triển sản phẩm mới. Cần tính tổng chi phí trong suốt vòng đời, gồm điện, vật tư, phụ tùng, phần mềm, đào tạo và thời gian dừng máy. Công nghệ tiên tiến nhưng không phù hợp vùng nguyên liệu, quy mô hoặc kỹ năng người vận hành có thể trở thành khoản đầu tư kém hiệu quả.
Vì vậy, một dự án hợp tác tốt cần được thiết kế ngay từ đầu với lộ trình hấp thụ và nâng cấp công nghệ, có kinh phí đào tạo, đầu mối chịu trách nhiệm và kết quả phải bàn giao. Có thể đặt các mốc tham khảo: một đến hai năm đầu làm chủ vận hành và kiểm soát chất lượng; từ năm thứ ba đến năm thứ năm làm chủ bảo trì thường xuyên, xử lý sự cố và tối ưu quy trình; giai đoạn tiếp theo đến năm thứ mười tiến tới cải tiến, tích hợp giải pháp trong nước và nhân rộng. Lộ trình phải phù hợp độ phức tạp của công nghệ, không biến thành chỉ tiêu cứng áp dụng cho mọi dự án.
Nghiệm thu năng lực cần dựa trên việc đội ngũ Việt Nam thực hiện được gì: tự xử lý bao nhiêu loại sự cố, có giảm thời gian dừng máy, tỷ lệ hao hụt và chi phí trên đơn vị sản phẩm hay không. Số buổi tập huấn hoặc số người được cấp chứng chỉ chỉ phản ánh hoạt động; khả năng vận hành và cải tiến mới phản ánh kết quả. Cũng cần có chính sách giữ người và đào tạo đội ngũ kế cận để tri thức không mất đi khi nhân sự thay đổi.
Tôi đặc biệt coi trọng đào tạo kỹ thuật viên và phát triển doanh nghiệp cung ứng trong nước. Đào tạo nghề kép của Đức gắn việc học tại trường với thực hành tại doanh nghiệp, có hợp đồng đào tạo và cơ chế đánh giá kỹ năng nghề. Bài học đối với Việt Nam là doanh nghiệp phải tham gia xác định kỹ năng cần có và tổ chức đào tạo ngay trên công việc thực tế. Mỗi dự án công nghệ lớn trong nông nghiệp nên tạo điều kiện để trường nghề, đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong nước cùng tham gia.
Cũng cần đặc biệt chú ý tới dữ liệu, phần mềm và tri thức kỹ thuật. Ngay từ khi đàm phán phải làm rõ quyền truy cập và xuất dữ liệu vận hành, tài liệu bảo trì, khả năng kết nối hệ thống, chi phí cập nhật phần mềm và phương án tiếp tục vận hành khi đổi nhà cung cấp. Những quyền này cần được thỏa thuận trong hợp đồng, phù hợp pháp luật và quyền sở hữu trí tuệ; không nên mặc nhiên coi mua thiết bị là mua cả bí quyết hay mã nguồn.
Với trí tuệ nhân tạo, nên bắt đầu từ ứng dụng có lợi ích đo được như hỗ trợ phát hiện sâu bệnh, tưới chính xác, phân loại chất lượng hoặc dự báo nhu cầu. Dữ liệu phải phù hợp điều kiện sản xuất địa phương và có chuyên gia kiểm chứng. Với hộ nhỏ, hợp tác xã hoặc đơn vị dịch vụ có thể cung cấp công nghệ theo nhu cầu sử dụng, giúp giảm vốn đầu tư ban đầu.
Mục tiêu cuối cùng là xác định rõ phần nào nên mua để đi nhanh, phần nào cần làm chủ để bảo đảm hoạt động liên tục và phần nào có thể phát triển thành lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Khi công nghệ nhập khẩu để lại đội ngũ giỏi hơn, nhà cung ứng có năng lực hơn và khả năng tự cải tiến, chuyển giao công nghệ mới thực sự đóng góp vào năng lực phát triển quốc gia.
Từ người nông dân biết sử dụng một dịch vụ đến doanh nghiệp có khả năng tối ưu cả hệ thống là những mức độ làm chủ khác nhau. Điểm chung không nằm ở yêu cầu tự làm mọi thứ, mà ở khả năng hiểu công việc, kiểm soát hiệu quả và chủ động lựa chọn. Những năng lực ấy sẽ được thử thách rõ hơn khi sản phẩm bước vào các thị trường có yêu cầu cao.
PHẦN V
ĐỘT PHÁ 4: TỪ NÂNG CHUẨN ĐẾN THƯƠNG HIỆU VÀ GIÁ TRỊ GIỮ LẠI
Năng lực sản xuất cần được chuyển thành một vị thế thị trường có thể duy trì. Đạt chuẩn là điều kiện tiếp cận; được khách hàng tin cậy, lựa chọn nhiều lần và tạo ra thu nhập sau chi phí mới cho thấy hiệu quả thương mại. Phần trao đổi này đi từ yêu cầu xanh của thị trường, những điều kiện để người sản xuất nhỏ tham gia nâng chuẩn, đến thương hiệu, văn hóa kinh doanh và phần giá trị được giữ lại cho doanh nghiệp cùng cộng đồng.
5.1. Tiêu chuẩn xanh phải trở thành năng lực của nền sản xuất
- Thưa Đại sứ, những thay đổi về tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm trong chuỗi cung ứng tại Đức và Liên minh châu Âu đang đặt ra yêu cầu gì đối với nông nghiệp Việt Nam? Chúng ta cần ưu tiên điều gì để thích ứng và tận dụng cơ hội nâng cấp?
Đại sứ Vũ Quang Minh: Tôi cho rằng điều đáng chú ý nhất là thị trường châu Âu đang xem xét ngày càng sâu cả quá trình tạo ra sản phẩm, bên cạnh chất lượng của sản phẩm cuối cùng. Người mua quan tâm sản phẩm được sản xuất ở đâu, sử dụng tài nguyên như thế nào, có tác động gì tới môi trường và xã hội, và chuỗi cung ứng có đủ dữ liệu đáng tin cậy để chứng minh hay không. Năng lực cạnh tranh của nông sản vì thế phụ thuộc ngày càng nhiều vào cách tổ chức toàn bộ chuỗi.
Với Việt Nam, đây là yêu cầu chuyển từ lợi thế về điều kiện tự nhiên và chi phí sang lợi thế về năng suất, chất lượng, độ tin cậy và khả năng đáp ứng thị trường. Tuy nhiên, chuyển đổi xanh trước hết phải phục vụ chính nền nông nghiệp và người dân Việt Nam: giữ đất màu mỡ, sử dụng nước hiệu quả, giảm rủi ro sức khỏe và bảo vệ sinh kế trước biến đổi khí hậu. Khi những lợi ích ấy được bảo đảm, việc đáp ứng thị trường quốc tế mới có nền tảng bền vững.
EUDR, quy định của EU về sản phẩm không gây mất rừng, là một ví dụ. Quy định bao phủ bảy nhóm nguyên liệu gồm gia súc thuộc nhóm bò, ca cao, cà phê, cọ dầu, cao su, đậu tương và gỗ, cùng các sản phẩm cụ thể trong danh mục. Hàng thuộc phạm vi điều chỉnh phải đáp ứng yêu cầu không gây mất rừng sau ngày 31/12/2020, được sản xuất hợp pháp và có thông tin phục vụ thẩm định chuỗi cung ứng. Theo lộ trình EU đang công bố, các chủ thể lớn và vừa áp dụng từ 30/12/2026; phần lớn chủ thể nhỏ và siêu nhỏ từ 30/6/2027, với ngoại lệ đối với nhóm đã thuộc quy định gỗ của EU. Nông hộ Việt Nam vẫn có thể phải cung cấp dữ liệu sớm để đáp ứng yêu cầu của khách hàng trong chuỗi.
Một điểm cần theo dõi sát là EU tiếp tục điều chỉnh cách triển khai. Ngày 13/7/2026, Ủy ban châu Âu thông báo thông qua các văn bản cập nhật danh mục sản phẩm và hệ thống thông tin EUDR. Việc áp dụng từng thay đổi phải căn cứ văn bản đã hoàn tất thủ tục pháp lý và mốc hiệu lực tương ứng. Doanh nghiệp cần kiểm tra đúng mã hàng, vai trò trong chuỗi và mốc áp dụng của mình. Việc có thêm thời gian chuẩn bị nên được sử dụng để hoàn thiện dữ liệu vùng nguyên liệu và quan hệ với người mua.
Cũng phải phân biệt nghĩa vụ pháp luật với tiêu chuẩn riêng của nhà mua hàng. Chẳng hạn, CBAM hiện điều chỉnh một số hàng thuộc sáu lĩnh vực công nghiệp, trong đó có phân bón, chứ không phải cơ chế áp trực tiếp cho mọi nông sản, thực phẩm. Với từng ngành hàng, cần xác định đúng yêu cầu bắt buộc, yêu cầu thương mại và khoản đầu tư thực sự cần thiết, tránh làm tăng chi phí vì hiểu sai phạm vi quy định.
Điều quan trọng là đây không còn là câu chuyện xử lý hồ sơ ở cửa khẩu. Muốn đáp ứng được yêu cầu của thị trường, năng lực phải được hình thành từ trong nước: từ dữ liệu vùng nguyên liệu, tọa độ sản xuất, quyền sử dụng đất, quy trình thu mua đến hệ thống truy xuất và kiểm soát chất lượng. Vì vậy, điều Việt Nam cần thay đổi sớm nhất là chuyển từ cách ứng phó riêng với từng yêu cầu sang xây dựng một nền sản xuất minh bạch, có thể truy xuất và có khả năng chứng minh tính bền vững. Cần một nền dữ liệu cốt lõi dùng được cho nhiều thị trường, đồng thời có các phần bổ sung theo yêu cầu riêng của từng thị trường và khách hàng.
Nếu một vùng nguyên liệu được tổ chức tốt, có dữ liệu chuẩn, quy trình sản xuất rõ ràng, hệ thống truy xuất đáng tin cậy và quản trị môi trường bài bản, thì năng lực đó không chỉ giúp tiếp cận thị trường EU mà còn mở cánh cửa tới nhiều thị trường cao cấp khác. Ngược lại, nếu mỗi khi xuất hiện một tiêu chuẩn mới chúng ta lại tổ chức ứng phó riêng lẻ, chi phí tuân thủ sẽ rất lớn và những chủ thể dễ bị đẩy ra khỏi chuỗi nhất chính là hộ nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ.
Quá trình nâng cấp ấy không thể để từng hộ hay từng doanh nghiệp tự xoay xở. Cần hình thành hạ tầng và dịch vụ dùng chung về dữ liệu vùng nguyên liệu, kiểm nghiệm, truy xuất, khuyến nông và hướng dẫn tiêu chuẩn. Dữ liệu phải được cập nhật, kiểm tra được và liên thông giữa các khâu; nông dân cần được hướng dẫn ghi chép đơn giản, có người hỗ trợ tại địa bàn. Một mã QR chỉ có giá trị khi thông tin phía sau phản ánh đúng thực tế sản xuất.
Ở đây, hợp tác xã có thể trở thành đơn vị tổ chức dịch vụ và đại diện cho các hộ: thống nhất quy trình, kiểm tra chất lượng, quản lý hồ sơ và đàm phán với bên mua. Quy mô kinh tế có thể hình thành qua liên kết, cơ giới hóa và dịch vụ chung; không nhất thiết mọi hộ đều phải trở thành trang trại lớn. Điều kiện là hợp tác xã có quản trị minh bạch, cán bộ đủ năng lực và thành viên thấy rõ lợi ích tham gia.
Sức ép xanh có thể trở thành động lực nâng cấp nông nghiệp, nhưng lợi ích ấy không tự đến. Người nông dân phải thấy quy trình mới giúp giảm chi phí, có đầu ra ổn định hơn hoặc được trả công xứng đáng cho chất lượng. Nếu họ gánh toàn bộ chi phí tuân thủ mà phần giá trị tăng thêm nằm ở các khâu khác, chuỗi khó có thể bền vững.
5.2. Hỗ trợ chuyển đổi để người sản xuất nhỏ có thể tự vươn lên
- Quá trình đáp ứng tiêu chuẩn mới thường đòi hỏi chi phí trước khi tạo được doanh thu. Theo ông, Nhà nước cần hỗ trợ như thế nào để nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ có thể tham gia, đồng thời tránh lệ thuộc kéo dài vào hỗ trợ?
Đại sứ Vũ Quang Minh: Đúng là chuyển đổi xanh có chi phí ban đầu, nhưng cũng cần nói rõ rằng đạt chuẩn không tự động bảo đảm bán được giá cao hơn. Hiệu quả kinh tế còn tùy sản phẩm, thị trường, quy mô và cách tổ chức chuỗi. Nhà nước cần giúp các chủ thể vượt qua những trở ngại mà từng đơn vị khó tự giải quyết, nhất là thiếu thông tin, hạ tầng, kỹ năng và khả năng tiếp cận vốn trong giai đoạn chuyển đổi.
Tôi cho rằng có bốn loại hạ tầng mềm rất cần. Thứ nhất là hệ thống tiêu chuẩn, hướng dẫn và cảnh báo thị trường rõ ràng, cập nhật, dễ tiếp cận. Thứ hai là năng lực kiểm nghiệm, đo lường và đánh giá sự phù hợp đáng tin cậy với chi phí hợp lý. Thứ ba là dữ liệu về vùng nguyên liệu, môi trường và truy xuất có thể dùng chung theo quyền truy cập phù hợp. Thứ tư là mạng lưới khuyến nông, tư vấn và đào tạo giúp người sản xuất biết phải thay đổi quy trình nào và tiếp cận thị trường nào sau khi đạt chuẩn.
Cần phân biệt đầu tư công cho hạ tầng, dịch vụ thiết yếu với hỗ trợ chuyển đổi cho từng chủ thể. Hạ tầng và dịch vụ công cần nguồn lực duy trì lâu dài; còn hỗ trợ riêng cho doanh nghiệp, hợp tác xã nên có mục tiêu, thời hạn và cơ chế cùng đóng góp. Có thể hỗ trợ tư vấn, thử nghiệm, đào tạo hoặc đo lường ban đầu, sau đó đánh giá bằng mức giảm chi phí, chất lượng sản phẩm, hợp đồng tiêu thụ và thu nhập thực tế. Khi hỗ trợ không tạo được khả năng tự vận hành, phải điều chỉnh cách làm.
Nên phát triển các dịch vụ này theo cụm ngành hàng và vùng sản xuất, tận dụng tổ chức sẵn có và công khai điều kiện tiếp cận. Tránh để mỗi địa phương xây một nền tảng dữ liệu riêng, mỗi dự án lập một hệ thống chứng nhận riêng khiến người dân phải khai báo và trả phí nhiều lần. Việc hỗ trợ cần minh bạch, có đánh giá độc lập và cơ chế tiếp nhận phản ánh của người sử dụng.
Một phần khó của chuyển đổi là khoảng trễ giữa lúc đầu tư và lúc có doanh thu. Có thể nghiên cứu tín dụng theo dòng tiền và hợp đồng liên kết, cơ chế bảo lãnh có giới hạn hoặc đồng tài trợ giai đoạn đầu, với tiêu chí công khai và bên cho vay vẫn chịu trách nhiệm thẩm định. Doanh nghiệp thu mua cũng cần chia sẻ rủi ro qua hợp đồng có thời hạn phù hợp, công thức giá rõ ràng và cam kết hỗ trợ kỹ thuật. Không nên để người sản xuất vừa vay tiền chuyển đổi vừa phải tự gánh toàn bộ rủi ro đầu ra.
Đề án một triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 là một khuôn khổ cụ thể để gắn tổ chức sản xuất với chuyển đổi xanh. Theo tôi, cần ưu tiên chứng minh lợi ích từ giảm đầu vào, giảm thất thoát và nâng chất lượng, đồng thời xây dựng năng lực đo lường, báo cáo và thẩm định phát thải. Nguồn thu tín chỉ carbon, nếu đủ điều kiện hình thành, chỉ nên đưa vào phương án tài chính một cách thận trọng, với thỏa thuận rõ về chi phí, quyền lợi và phần nông dân được hưởng.
Về tổ chức thực hiện, mỗi vùng hoặc ngành hàng thí điểm nên có một đầu mối điều phối, mục tiêu đo được và đánh giá sau vài vụ sản xuất trước khi mở rộng. Đối thoại với người dân phải được tổ chức ngay từ thiết kế chương trình. Chính sách tốt là chính sách giúp họ có khả năng lựa chọn và tự duy trì cách làm mới.
5.3. Thương hiệu phải được xây trên chất lượng, chữ tín và hiệu quả thương mại
- Khi sản phẩm đã đáp ứng tiêu chuẩn, làm thế nào để tiến tới một thương hiệu được người mua tin cậy và giữ được nhiều giá trị hơn cho Việt Nam? Vai trò của doanh nghiệp dẫn dắt, cộng đồng và ngoại giao kinh tế nên được đặt ở đâu?
Đại sứ Vũ Quang Minh: Đạt chuẩn giúp sản phẩm có điều kiện vào thị trường. Thương hiệu được hình thành khi người mua nhận biết một giá trị riêng, tin vào chất lượng đó và tiếp tục lựa chọn sản phẩm. Nhưng thương hiệu cũng phải có nền tảng thương mại: doanh nghiệp cần hiểu ai mua, mua để làm gì, qua kênh nào và mức giá nào đủ bù chi phí đưa hàng tới người tiêu dùng.
Chất lượng phải ổn định, sản phẩm phù hợp nhu cầu và giao hàng đáng tin cậy. Câu chuyện về vùng đất, giống bản địa, văn hóa hay phương thức canh tác chỉ thuyết phục khi có bằng chứng và thể hiện trong trải nghiệm sản phẩm. EVFTA, có hiệu lực từ ngày 1/8/2020, tạo khuôn khổ ưu đãi thương mại và bảo hộ chỉ dẫn địa lý; doanh nghiệp vẫn phải đáp ứng điều kiện của từng mặt hàng để tận dụng cơ hội. Bảo hộ pháp lý cần đi cùng tổ chức giữ chuẩn, bảo vệ danh tiếng và phát triển thị trường.
Chế biến sâu cũng cần được lựa chọn theo hiệu quả, không mặc nhiên coi chế biến càng nhiều thì giá trị giữ lại càng lớn. Một sản phẩm tươi chất lượng cao hoặc nguyên liệu chuyên biệt có thể có lợi thế riêng; một sản phẩm chế biến cầu kỳ vẫn có thể lỗ nếu chi phí phân phối và tiếp thị quá lớn. Điều cần theo dõi là phần giá trị và lợi nhuận doanh nghiệp Việt Nam giữ được sau chi phí, cùng khả năng duy trì quan hệ với khách hàng.
Doanh nghiệp dẫn dắt có vai trò lớn vì phát triển sản phẩm và thị trường đòi hỏi vốn, quản trị, thiết kế, phân phối và khả năng duy trì chuẩn lâu dài. Tuy nhiên, khi thương hiệu dựa trên địa danh, giống bản địa hoặc tri thức truyền thống, cộng đồng tạo ra giá trị ấy cần được tham gia quản trị chất lượng và hưởng lợi. Hợp đồng phải làm rõ cách xác định giá, kiểm định chất lượng, chia sẻ chi phí chuyển đổi, thanh toán và giải quyết tranh chấp. Quyền thương lượng của hợp tác xã là một điều kiện để quan hệ liên kết có thể bền lâu.
Văn hóa kinh doanh thể hiện rất cụ thể trong việc giữ chữ tín với người mua và người trồng, công bố thông tin trung thực, bảo đảm an toàn thực phẩm và xử lý có trách nhiệm khi phát sinh sự cố. Không thể xây thương hiệu bền vững trên những tuyên bố xanh thiếu căn cứ hoặc quan hệ liên kết thiếu công bằng. Uy tín quốc gia được bồi đắp từ cách từng doanh nghiệp thực hiện những cam kết như vậy.
Ngoại giao kinh tế cần cung cấp hiểu biết sát về thị trường, kết nối doanh nghiệp với nhà nhập khẩu và hệ thống phân phối phù hợp, đồng thời hỗ trợ xử lý vướng mắc và bảo vệ quyền lợi chính đáng của sản phẩm Việt Nam. Nên tổ chức các chương trình phát triển thị trường theo ngành hàng, theo dõi từ tiếp xúc ban đầu đến đơn hàng, mua lặp lại và mở rộng phân phối. Tôi thiên về tập trung nguồn lực xúc tiến vào một số sản phẩm và thị trường có triển vọng rõ, trong khi vẫn để doanh nghiệp chủ động lựa chọn cơ hội kinh doanh của mình.
Việc lựa chọn kênh phân phối cũng cần thực tế. Không phải hợp tác xã nào cũng đủ nguồn lực mở thương hiệu bán lẻ ở châu Âu. Có thể đi từng bước qua hợp đồng cung ứng ổn định, sản phẩm chuyên biệt, hợp tác phát triển thương hiệu hoặc xây dựng thương hiệu do mình sở hữu khi đã đủ năng lực. Mục tiêu là nâng dần quyền thương lượng, hiểu biết thị trường và phần giá trị giữ lại, phù hợp sức của từng chủ thể.
Giá trị giữ lại không chỉ là phần chênh lệch giữa giá bán và chi phí. Qua quá trình phát triển thị trường, doanh nghiệp còn có thể hiểu khách hàng hơn, người sản xuất nắm vững tiêu chuẩn hơn và cộng đồng có điều kiện gìn giữ danh tiếng của sản phẩm. Từ năng lực thương mại ấy, vấn đề được mở rộng tới khả năng lựa chọn và sức chống chịu của cả nền kinh tế.
PHẦN VI
ĐỘT PHÁ 5: HỘI NHẬP ĐỂ BỒI ĐẮP NỘI LỰC VÀ NÂNG CAO TỰ CHỦ CHIẾN LƯỢC
Đột phá về thị trường trả lời câu hỏi sản phẩm Việt Nam có thể tạo và giữ lại giá trị bằng cách nào. Đột phá về hội nhập đặt câu hỏi ở tầm rộng hơn: Cần tổ chức các quan hệ bên ngoài ra sao để doanh nghiệp, người lao động và nền kinh tế có thêm năng lực, thêm phương án lựa chọn trước biến động? Đây là mối liên hệ giữa hiệu quả của từng chuỗi sản xuất với năng lực tự chủ chiến lược của quốc gia.
6.1. Tự cường bắt đầu từ lựa chọn đúng những năng lực cần làm chủ
- Muốn "tam nông" tạo ra nhiều giá trị hơn, chúng ta cần kết nối tốt với công nghiệp, dịch vụ và thị trường thế giới. Theo ông, Việt Nam nên lựa chọn những khâu nâng cấp như thế nào để tận dụng được công nghệ, vốn và thị trường bên ngoài, đồng thời tích lũy năng lực cạnh tranh ở trong nước?
TS. Võ Trí Thành: Tôi nghĩ trước hết cần thống nhất cách hiểu về tự cường. Tự cường không phải khép kín, cũng không phải tự sản xuất mọi thứ từ đầu vào đến sản phẩm cuối cùng. Điều quan trọng là mình có năng lực gì, làm chủ được những khâu nào và có khả năng lựa chọn, ứng phó ra sao khi điều kiện thay đổi. Mua một công nghệ tốt từ bên ngoài để học hỏi, nâng chất lượng và hiệu quả có thể giúp nội lực mạnh hơn. Ngược lại, cố thay thế một đầu vào nhập khẩu bằng sản phẩm trong nước đắt hơn, chất lượng thấp hơn chưa chắc đã có lợi cho nền sản xuất. Không nên chỉ nhìn xuất xứ mà bỏ qua hiệu quả của toàn chuỗi.
Vấn đề là lựa chọn những năng lực đáng đầu tư và có khả năng phát triển. Với ngành hàng này, đó có thể là giống và quy trình sản xuất; với ngành hàng khác là bảo quản, kiểm nghiệm, chế biến hoặc khả năng tiếp cận người mua. Không có một đáp án chung rằng cứ chế biến sâu, cứ xây thương hiệu là thành công. Còn phải có nguyên liệu phù hợp, nhu cầu thị trường, năng lực vận hành và phương án kinh doanh khả thi.
Có những trường hợp nên giải quyết tốt khâu bảo quản và chất lượng trước khi mở rộng chế biến. Cũng có những sản phẩm cần phát triển chế biến để mở thêm thị trường và giảm phụ thuộc vào tiêu thụ tươi. Thứ tự lựa chọn phải xuất phát từ bài toán cụ thể, không phải từ một mô hình được xem là hấp dẫn ở nơi khác. Ở tầm rộng hơn, tôi muốn nhìn nông nghiệp trong quan hệ với công nghiệp và dịch vụ. Một ngành nông nghiệp phát triển tốt có thể tạo nhu cầu cho nghiên cứu giống, cơ khí, thiết bị, bảo quản, vận tải, kiểm định và thương mại. Những ngành này phát triển lại giúp nông nghiệp nâng năng suất và chất lượng. Bởi vậy, đầu tư cho "tam nông" không chỉ là đầu tư bên trong phạm vi sản xuất nông nghiệp.
Đây cũng là cách nhìn cần có trong hội nhập. Bên cạnh vốn và đơn hàng, nên hỏi sau một quá trình hợp tác, doanh nghiệp trong nước học được gì, người lao động có thêm kỹ năng nào, nhà cung ứng đảm nhận được công việc gì. Hợp tác càng sâu thì yêu cầu nâng năng lực trong nước càng phải rõ. Không phải để hạn chế đối tác bên ngoài, mà để mình tham gia hiệu quả hơn và có vị thế tốt hơn trong quan hệ hợp tác ấy.
Chuyển đổi xanh cũng cần được đặt trong bài toán đó. Không nên hứa rằng cứ đạt tiêu chuẩn mới là lập tức bán được giá cao. Phải tính cả chi phí, thị trường, khả năng duy trì và lợi ích thực tế. Những hỗ trợ về thử nghiệm, kiểm định, hướng dẫn kỹ thuật cần giúp hộ nhỏ, hợp tác xã có thể tham gia nâng chuẩn, thay vì để chuẩn cao trở thành điều họ chỉ đứng ngoài nhìn vào.
Năng lực cạnh tranh của "tam nông" không chỉ nằm ở việc bán được bao nhiêu sản phẩm, mà còn ở khả năng tạo ra sản phẩm tốt hơn, đảm nhận công việc có giá trị hơn và tích lũy tri thức qua mỗi bước phát triển. Giá trị giữ lại vì thế phải được nhìn cả ở doanh nghiệp, người nông dân, người lao động và những ngành cùng tham gia, chứ không chỉ ở kim ngạch hay lợi nhuận của một đầu mối.
6.2. Mỗi chu kỳ hợp tác phải mở rộng dư địa tự chủ của Việt Nam
- Thưa Đại sứ, Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam nhấn mạnh nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng, đột phá; đồng thời yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ chiến lược và sức chống chịu. Với "tam nông", cần tổ chức đối ngoại và hội nhập như thế nào để nguồn lực bên ngoài được chuyển hóa thành năng lực trong nước và mở rộng khả năng lựa chọn của Việt Nam?
Đại sứ Vũ Quang Minh: Trước hết phải nhìn hội nhập và tự chủ trong một quan hệ thống nhất. Tự chủ chiến lược không có nghĩa là khép kín hay tự làm tất cả. Trong một thế giới liên kết sâu, tự chủ phải được hiểu là khả năng chủ động lựa chọn, đa dạng hóa quan hệ, làm chủ những năng lực thiết yếu và đủ sức thích ứng khi môi trường bên ngoài biến động. Hội nhập càng sâu thì nội lực càng phải mạnh.
Đối với "tam nông", điều quan trọng không chỉ là mở thêm thị trường xuất khẩu hay thu hút thêm vốn, công nghệ. Giá trị lớn hơn của hội nhập là tạo điều kiện để chúng ta học được tri thức mới, tiếp cận công nghệ tiên tiến, nâng chuẩn sản xuất, phát triển doanh nghiệp và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Nguồn lực bên ngoài chỉ thực sự có ý nghĩa khi sau quá trình hợp tác, những năng lực ấy được hấp thụ và từng bước trở thành năng lực của chính Việt Nam.
Với "tam nông", nội lực còn nằm ở khả năng tổ chức cộng đồng và chất lượng sống ở nông thôn. Nông dân cần được tham gia quyết định về phương án sản xuất và chia sẻ lợi ích; nông thôn cần có dịch vụ, việc làm và môi trường sống đủ tốt để giữ và thu hút người có kỹ năng. Phát triển chế biến, logistics, dịch vụ kỹ thuật và kinh tế nông thôn giúp tạo sinh kế đa dạng, giảm sức ép phải sống hoàn toàn bằng diện tích đất canh tác nhỏ.
Với đất đai, cần tạo điều kiện liên kết sản xuất và sử dụng đất hiệu quả trên cơ sở tự nguyện, minh bạch, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân. Quy hoạch nông thôn phải kết nối được vùng nguyên liệu, chế biến, dịch vụ và khu dân cư, đồng thời giữ không gian sinh thái. Giá trị phát triển cần thể hiện ở năng suất, việc làm và chất lượng sống được nâng lên; sự tăng giá đất đơn thuần chưa phản ánh những kết quả ấy.
Các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cần tham gia sớm vào nhận diện xu hướng thị trường, tiêu chuẩn, công nghệ và dịch chuyển chuỗi cung ứng; kết nối doanh nghiệp với cả người mua, cơ sở nghiên cứu, tổ chức tài chính và đối tác đào tạo. Thông tin ấy cần đến được hiệp hội, địa phương và hợp tác xã dưới dạng hướng dẫn có thể sử dụng. Ngược lại, nhu cầu cụ thể trong nước phải trở thành đầu bài cho hoạt động đối ngoại, thay vì hợp tác xong mới tìm nơi tiếp nhận.
Tôi đề xuất tổ chức các chương trình hợp tác theo vấn đề cụ thể của ngành hàng, kết nối vùng nguyên liệu với doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, đào tạo và đối tác quốc tế. Chương trình cần có đơn vị tiếp nhận đủ năng lực, kinh phí cùng đóng góp và phương án duy trì sau khi tài trợ kết thúc. Cùng với thu hút vốn đầu tư, cần tạo điều kiện để đối tác phát triển nhà cung ứng Việt Nam, đặt hoạt động nghiên cứu phù hợp tại Việt Nam và đào tạo nhân lực gắn với nhu cầu thực tế.
Việt Nam cũng cần tham gia sớm hơn vào quá trình xây dựng và thực thi các quy tắc có ảnh hưởng tới nông nghiệp. Các cơ chế đối thoại của EVFTA, WTO và hợp tác ASEAN có thể được sử dụng để nêu vướng mắc, đề xuất cách thực hiện phù hợp điều kiện nông hộ, thúc đẩy hợp tác kỹ thuật và giảm thủ tục trùng lặp. Tiếng nói đối ngoại sẽ thuyết phục hơn khi đi kèm dữ liệu thực tế, phương án khả thi và sự phối hợp chặt giữa cơ quan quản lý với hiệp hội, doanh nghiệp.
Đa dạng hóa cần được xây dựng trên bản đồ rủi ro của từng ngành hàng. Phải biết chuỗi đang phụ thuộc vào đâu về thị trường, giống, vật tư, công nghệ, tuyến vận tải và kênh thanh toán; nếu một mắt xích gián đoạn thì mất bao lâu để thay thế. Từ đó chuẩn bị nhà cung cấp và thị trường thay thế, duy trì những năng lực thiết yếu trong nước, đầu tư kho bảo quản và tăng khả năng xử lý sản phẩm khi xuất khẩu gặp khó. Thị trường nội địa với yêu cầu chất lượng ngày càng cao cũng cần được coi là một nền tảng của sức chống chịu.
Nhưng tự chủ cũng không nên được hiểu là nội địa hóa bằng mọi giá. Có những công nghệ, thiết bị hay dịch vụ mà hợp tác quốc tế sẽ giúp Việt Nam đi nhanh hơn và hiệu quả hơn. Vấn đề cốt lõi là phải xác định rõ những năng lực nào có thể khai thác từ thị trường quốc tế, những năng lực nào nhất thiết phải làm chủ và những lĩnh vực nào Việt Nam có thể phát triển thành lợi thế cạnh tranh của riêng mình.
Trong các năng lực cần ưu tiên, tôi chú ý tới bảo tồn và phát triển nguồn gen, năng lực giống, quản trị nước, kiểm soát dịch bệnh, dữ liệu sản xuất và chế biến bảo quản. Với Đồng bằng sông Cửu Long, hợp tác về nguồn nước và chia sẻ thông tin trong lưu vực Mekong cần được gắn chặt với thích ứng tại địa phương. Tự chủ phải được thiết kế cho cả những rủi ro sinh thái, không chỉ rủi ro thị trường.
Hiệu quả hội nhập nên được theo dõi bằng một bộ chỉ tiêu gọn nhưng phản ánh đúng sự thay đổi: giá trị gia tăng tạo ra và giữ lại trong nước; thu nhập ròng, mức độ ổn định sinh kế của nông dân; năng lực kỹ thuật và cung ứng của doanh nghiệp Việt Nam; hiệu quả sử dụng tài nguyên; mức độ đa dạng hóa và khả năng phục hồi khi xảy ra cú sốc. Kim ngạch tăng do giá thế giới lên cần được phân biệt với tăng trưởng nhờ năng suất, chất lượng và vị thế tốt hơn trong chuỗi.
Trong tổ chức thực hiện, tôi muốn nhấn mạnh những ưu tiên gắn bó với nhau: tổ chức liên kết có trách nhiệm và chia sẻ lợi ích; hạ tầng dữ liệu và chất lượng; công nghệ gắn với năng lực con người; tài chính phù hợp quá trình chuyển đổi; và phát triển thị trường gắn với thương hiệu, chế biến, phân phối. Những ưu tiên này cần được triển khai trong cùng một chương trình của vùng hoặc ngành hàng để nguồn lực bổ sung cho nhau.
Theo tôi, tinh thần "nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng, đột phá" cần được thể hiện bằng những kết quả như vậy. Sau mỗi chu kỳ hợp tác, doanh nghiệp Việt Nam phải có thêm năng lực, người nông dân phải có thu nhập và tiếng nói tốt hơn, còn nền kinh tế có thêm khả năng lựa chọn khi môi trường quốc tế biến động.
Một điểm quan trọng nữa là doanh nghiệp Việt Nam cần quan tâm xây dựng một văn hóa kinh doanh hiện đại phù hợp các chuẩn mực và giá trị chung của quốc tế, đồng thời đậm đà bản sắc dân tộc, với văn hóa là sức mạnh mềm tăng cường khả năng cạnh tranh trong một thế giới nhiều biến động hiện nay. Việc xây dựng thương hiệu riêng cho các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam với mức độ chế biến ngày một sâu và giá trị gia tăng cao, phát triển dần lên các bậc thang trong chuỗi cung ứng toàn cầu là một chìa khoá quan trọng đảm bảo thành công trong hội nhập quốc tế.
Đó là cách hội nhập bồi đắp sức mạnh tổng hợp của quốc gia và giúp "tam nông" đóng góp chủ động vào mô hình phát triển mới của Việt Nam.
PHẦN KẾT
TỪ NĂM ĐỘT PHÁ ĐẾN HÀNH ĐỘNG 2026-2030
Năm đột phá không phải năm chương trình đứng riêng bên cạnh nhau. Khả năng hợp tác cần thị trường; doanh nghiệp cần đối tác có năng lực; dữ liệu và công nghệ cần người sử dụng; thương hiệu cần chất lượng cùng chữ tín; hội nhập cần một nền tảng trong nước đủ sức tiếp nhận. Vì vậy, phần kết trở lại yêu cầu chung của các cuộc trao đổi: Lựa chọn đúng điểm nghẽn, phối hợp nguồn lực và theo dõi những thay đổi thực chất.
Ưu tiên đúng là làm cho các nguồn lực phát huy tác dụng cùng nhau
- Từ những yêu cầu vừa phân tích, trong giai đoạn 2026-2030 nên thiết lập thứ tự ưu tiên ra sao? Những điều kiện nào phải chuẩn bị trước, những việc nào cần triển khai đồng thời và dựa vào đâu để quyết định tiếp tục, điều chỉnh hoặc mở rộng một chương trình?
TS. Võ Trí Thành: Tôi không nghĩ có thể xếp công nghệ đứng trước, doanh nghiệp đứng sau, rồi đến con người và thị trường. Những yếu tố này phụ thuộc vào nhau. Nhưng nói phải làm đồng bộ cũng không có nghĩa là việc gì cũng làm cùng một mức độ và nơi nào cũng làm giống nhau. Ưu tiên phải bắt đầu từ việc xác định điều gì đang cản trở hiệu quả của cả quá trình. Một vùng đã sản xuất tốt nhưng tổn thất sau thu hoạch lớn thì trọng tâm có thể khác với nơi chưa ổn định được chất lượng. Một hợp tác xã thiếu năng lực tổ chức dịch vụ cần cách hỗ trợ khác với một đơn vị đã có thị trường nhưng chưa đủ khả năng đáp ứng đơn hàng. Không nhận diện đúng những khác biệt ấy thì rất dễ phân bổ nguồn lực theo danh mục có sẵn.
Trong giai đoạn 2026-2030, tôi cho rằng cần làm rõ hơn việc kết hợp những nhiệm vụ nền tảng với các chương trình nâng năng lực cụ thể. Những điều kiện nền tảng như hạ tầng thiết yếu, thông tin, dịch vụ khoa học, kiểm định và môi trường hợp tác đáng tin cậy phải được quan tâm. Nhưng đầu tư cần gắn với nhu cầu sử dụng và khả năng vận hành lâu dài. Không thể có công trình mà thiếu người vận hành; có dữ liệu mà người sản xuất không sử dụng được; có đào tạo mà không gắn với công việc và thị trường.
Trên nền đó, nên tổ chức các chương trình theo bài toán của ngành hàng hoặc vùng sản xuất. Nghiên cứu ứng dụng, đào tạo, dịch vụ kỹ thuật và kết nối thị trường cần được chuẩn bị cùng nhau. Làm trên quy mô phù hợp, theo dõi kết quả, nhận diện điều kiện thành công rồi mở rộng. Không nên vội nhân rộng chỉ vì một mô hình có kết quả tốt trong một vụ hoặc trong điều kiện được hỗ trợ đặc biệt.
Đồng thời, vẫn phải giữ đầu tư dài hạn cho con người, khoa học và môi trường. Có những việc không thể chờ, dù kết quả chưa thể thấy ngay trong một nhiệm kỳ hay một mùa vụ. Những địa bàn khó khăn cũng không thể bị bỏ lại chỉ vì chi phí đầu tư cao hoặc hiệu quả thương mại trước mắt thấp. Hiệu quả phát triển phải bao gồm cả cơ hội của người dân và những lợi ích chung cần được bảo đảm.
Còn đánh giá thế nào? Theo tôi, cần hỏi cả kết quả trước mắt lẫn khả năng tiếp tục phát triển. Năng suất, chất lượng và thu nhập có cải thiện không? Người dân, hợp tác xã có tự vận hành được những cách làm mới không? Dịch vụ có được duy trì không? Đất, nước và môi trường sống có được bảo vệ tốt hơn không? Khi đọc những kết quả đó, phải tính đến giá cả, thị trường và điều kiện từng thời điểm. Không thể thấy doanh thu tăng là kết luận mọi chính sách đều đúng; cũng không thể gặp một vụ bất lợi rồi phủ nhận toàn bộ nỗ lực đổi mới. Đánh giá phải giúp hiểu nguyên nhân để điều chỉnh, chứ không chỉ phục vụ báo cáo thành tích.
Cách làm có hiệu quả thì tiếp tục và mở rộng. Chưa phù hợp thì sửa. Hỗ trợ có thời hạn mà không còn căn cứ để duy trì thì cần xem xét kết thúc theo lộ trình, nhưng phải phân biệt với trách nhiệm bảo đảm dịch vụ công và điều kiện sống thiết yếu. Điều tôi mong thấy sau giai đoạn này không chỉ là thêm những dự án tốt, mà là một nền sản xuất biết học hỏi và cải tiến tốt hơn. Người nông dân có thêm khả năng lựa chọn; hợp tác xã, doanh nghiệp có thêm năng lực hợp tác và cạnh tranh; địa phương biết tổ chức nguồn lực hiệu quả hơn. Khi những năng lực ấy cùng được bồi đắp, "tam nông" mới thực sự đóng góp vào sức mạnh phát triển lâu dài của quốc gia.
Quyết sách phải trở thành điều kiện phát triển cụ thể
- Từ góc nhìn doanh nghiệp, trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, bà cho rằng cần ưu tiên điều gì để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự nâng cao năng lực cạnh tranh, đóng góp vào sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước?
Anh hùng Lao động Thái Hương: Trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, khâu đột phá quan trọng nhất là phải nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, để những chủ trương, quyết sách rất đúng và rất lớn của Đảng thực sự đi vào cuộc sống, trở thành cơ chế, chính sách và những điều kiện phát triển cụ thể cho người dân và doanh nghiệp.
Chúng ta đã có những định hướng chiến lược rất rõ. Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển, cùng các nghị quyết chiến lược về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế và hoàn thiện thể chế… đã mở ra một không gian phát triển mới. Vấn đề quan trọng bây giờ là tổ chức thực hiện như thế nào để các nguồn lực thực sự được khơi thông, để doanh nghiệp nhìn thấy cơ hội, có niềm tin, có môi trường an toàn để đầu tư dài hạn và dám đi vào những lĩnh vực mới, khó nhưng có ý nghĩa chiến lược đối với đất nước.
Từ thực tiễn của doanh nghiệp, tôi cho rằng chính sách tốt phải đi được đến cuộc sống. Cần tiếp tục xây dựng một môi trường thể chế minh bạch, ổn định, đồng bộ, không chồng chéo; đồng thời phải có những cơ chế đủ mạnh để khuyến khích những doanh nghiệp có Tâm – Trí - Lực tiên phong đầu tư vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, dữ liệu và những ngành, lĩnh vực mà đất nước có lợi thế. Nhà nước không thể làm thay doanh nghiệp, nhưng Nhà nước có thể kiến tạo "đường băng" để những doanh nghiệp có năng lực và khát vọng có thể cất cánh.
Tôi cũng cho rằng phải thay đổi cách nhìn về đầu tư cho khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Đây không đơn thuần là một khoản chi phí mà là đầu tư cho năng suất, cho chất lượng, cho năng lực cạnh tranh và cho tương lai của nền kinh tế. Doanh nghiệp phải dám đầu tư, dám đổi mới và dám đi trước; còn Nhà nước cần tạo ra môi trường, thể chế, hạ tầng và những cơ chế khuyến khích phù hợp để tinh thần đổi mới sáng tạo ấy được phát huy mạnh mẽ nhất.
Nhưng cuối cùng, khoa học, công nghệ, dữ liệu hay chuyển đổi số đều phải hướng tới con người và sự phát triển bền vững. Với nông nghiệp cũng vậy, công nghệ phải giúp nâng cao năng suất, tạo ra những sản phẩm có chất lượng quốc tế, nâng cao giá trị trên từng đơn vị đất đai, đưa người nông dân tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và có cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Khi lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, người dân và cộng đồng được đặt trong một mục tiêu phát triển chung, chúng ta sẽ tạo ra được sức mạnh rất lớn.
Tôi tin rằng, nếu những quyết sách chiến lược hiện nay được tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ và hiệu quả, đồng thời khơi dậy được nguồn lực, trí tuệ và khát vọng cống hiến của đội ngũ doanh nhân Việt Nam, thì khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ thực sự trở thành động lực quan trọng để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và vươn lên mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.
- Trân trọng cảm ơn TS. Võ Trí Thành, Anh hùng Lao động Thái Hương và Đại sứ Vũ Quang Minh!
Đề xuất khung hành động tạo đột phá cho "tam nông"
Từ các phân tích trên, tác giả đề xuất khung hành động dưới đây để kết nối năm đột phá. Khung đề xuất không ấn định một lộ trình cứng cho mọi địa bàn. Các mục tiêu cụ thể cần được xác định theo ngành hàng, vùng sản xuất và dữ liệu ban đầu; kết quả phải được theo dõi qua nhiều vụ, có xem xét biến động giá cả, thị trường và điều kiện tự nhiên.
| Đột phá | Việc cần ưu tiên và chủ thể phối hợp | Kết quả cần theo dõi | Dấu hiệu cần điều chỉnh |
|---|---|---|---|
| 1. Năng lực hợp tác | Công khai thông tin sớm, củng cố dịch vụ hợp tác xã, thiết lập phản hồi có trách nhiệm. Chính quyền, Mặt trận, Hội Nông dân, hợp tác xã và cộng đồng cùng thực hiện theo chức năng. | Người dân hiểu và sử dụng được thông tin; vị thế thương lượng, khả năng tự tổ chức và xử lý việc chung được nâng lên. | Tham vấn nhiều nhưng không có phản hồi; hợp tác xã tồn tại hình thức; quyền lợi và nghĩa vụ thiếu minh bạch. |
| 2. Mạng lưới doanh nghiệp | Gắn liên kết với đào tạo, nâng chất lượng, phát triển dịch vụ và nhà cung ứng. Doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở đào tạo cùng xác định kết quả; hỗ trợ công có điều kiện rõ. | Nông dân giảm tổn thất, cải thiện thu nhập sau chi phí; hợp tác xã và nhà cung ứng đáp ứng được công việc, đơn hàng khó hơn. | Doanh số đầu mối tăng nhưng đối tác không thêm kỹ năng, tiêu chuẩn hay khả năng lựa chọn; lợi ích phân bổ thiếu hợp lý. |
| 3. Dữ liệu và công nghệ | Chuẩn bị dữ liệu, đội ngũ, dịch vụ bảo trì và lộ trình hấp thụ ngay khi thiết kế dự án. Doanh nghiệp phối hợp viện, trường, hợp tác xã và nhà cung cấp. | Người sử dụng vận hành được; đội ngũ trong nước xử lý sự cố, tối ưu quy trình tốt hơn; chi phí và thời gian dừng máy giảm. | Bàn giao nhiều thiết bị nhưng ít sử dụng; dữ liệu không khai thác được; thiếu người vận hành và kinh phí duy trì. |
| 4. Tiêu chuẩn và giá trị giữ lại | Chuẩn bị hạ tầng chất lượng, truy xuất, phương án sản phẩm và kênh bán. Doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị kiểm nghiệm, hiệp hội và cơ quan xúc tiến phối hợp. | Chất lượng ổn định, khách mua lặp lại; doanh nghiệp và người sản xuất giữ được giá trị sau chi phí; cộng đồng được hưởng lợi từ thương hiệu. | Có chứng nhận nhưng thiếu đầu ra; chi phí tuân thủ vượt khả năng duy trì; quảng bá xanh không có bằng chứng. |
| 5. Hội nhập và tự chủ | Xác định nhu cầu năng lực trong nước, lập bản đồ phụ thuộc và phương án thay thế. Cơ quan đối ngoại, quản lý ngành, địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp cùng kết nối. | Thị trường, nguồn cung đa dạng hơn; hợp tác để lại kỹ năng và nhà cung ứng tốt hơn; khả năng phục hồi trước gián đoạn được cải thiện. | Kim ngạch tăng nhưng phụ thuộc tập trung hơn; dự án kết thúc mà không có đơn vị đủ năng lực duy trì kết quả. |
Nguồn: Khung tổng hợp của tác giả từ tư liệu phỏng vấn; không ấn định cùng một chỉ tiêu cho mọi địa phương, ngành hàng.
Trên từng địa bàn, việc trước tiên là xác định điểm nghẽn đang làm cả quá trình kém hiệu quả và ghi nhận hiện trạng để làm căn cứ so sánh. Tiếp đó là bố trí một đầu mối phối hợp phù hợp, chuẩn bị cùng lúc những điều kiện thiết yếu của mô hình, làm trên quy mô có thể quản lý và đánh giá qua thực tế. Mở rộng phải dựa vào khả năng duy trì kết quả và điều kiện thành công, không chỉ vì một vụ thuận lợi hoặc một mô hình được hỗ trợ đặc biệt. Việc điều chỉnh hay kết thúc hỗ trợ có thời hạn cần được phân biệt với trách nhiệm lâu dài đối với dịch vụ công, môi trường và cơ hội của người dân ở địa bàn khó khăn.
Để mỗi bước phát triển đều bồi đắp sức mạnh của đất nước
Khép lại chuyên đề, năm đột phá cùng dẫn về một yêu cầu: Phát triển phải làm cho con người và những tổ chức mà họ tham gia có khả năng tiến lên bằng chính năng lực đã tích lũy. Nhận diện đúng giá trị giúp nguồn lực được phân bổ có căn cứ hơn. Một cộng đồng biết hợp tác có thể giải quyết những công việc vượt quá sức của từng hộ. Doanh nghiệp có trách nhiệm làm cho mạng lưới cùng trưởng thành. Dữ liệu, công nghệ, thương hiệu và quan hệ quốc tế trở thành sức mạnh khi chúng được chuyển thành những khả năng có thể sử dụng và tiếp tục phát triển ở trong nước.
Nhìn theo cách ấy, vai trò "trụ đỡ" của nông nghiệp không bị thay thế hay thu hẹp. Vai trò ấy được củng cố bằng năng suất, chất lượng, khả năng bảo vệ tài nguyên và sức chống chịu cao hơn; được mở rộng bằng những liên kết với công nghiệp, dịch vụ, khoa học và thị trường. Người nông dân có thêm cơ hội lựa chọn sinh kế; nông thôn có điều kiện trở thành không gian sống và làm việc có tương lai; những giá trị văn hóa, tri thức và lòng tin được giữ gìn trong một phương thức tổ chức hiện đại.
Thành công của mô hình mới cần được nhận ra trong những thay đổi cụ thể: Người trồng lúa, giữ rừng được hưởng lợi tương xứng hơn; hợp tác xã có thể tự duy trì dịch vụ; doanh nghiệp có thêm đối tác giỏi; người Việt Nam làm chủ nhiều công việc hơn; sản phẩm được tin cậy hơn; và đất nước có nhiều phương án hơn trước biến động. Đó vừa là yêu cầu về hiệu quả, vừa là yêu cầu về công bằng và trách nhiệm với những thế hệ tiếp theo.
Nguồn lực dành cho "tam nông" cần tiếp tục được đầu tư. Nhưng giá trị lâu dài của mỗi khoản đầu tư phải được tìm thấy cả ở những gì còn lại sau một mùa vụ, một hợp đồng hay một chương trình hỗ trợ, từ tri thức, kỹ năng, chất lượng tài nguyên, lòng tin và khả năng cùng hành động. Khi những năng lực ấy được bồi đắp liên tục, nông nghiệp, nông dân, nông thôn sẽ đóng góp ngày càng chủ động vào một Việt Nam tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập.
Sức mạnh quốc gia không chỉ nằm ở những nguồn lực đang có, mà còn ở khả năng làm cho những nguồn lực ấy cùng tạo ra giá trị, cùng nuôi dưỡng con người và cùng mở rộng tương lai phát triển./.
[1] BloombergNEF (2025), Advancing Southeast Asia Carbon Market: Nature and Nurture. https://www.carbonknowledgehub.com/pdfs/ACCF-factsheet-CKH.pdf (truy cập ngày 13/9/2026).
[2] Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (2026), Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, Tư liệu - Văn kiện Đảng. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-19-nq-tw-ngay-28-7-2026-hoi-nghi-lan-thu-ba-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiv-ve-doi-moi-mo-hinh-phat.html?categoryId=102000092 (truy cập ngày 15/9/2026).
[3] Varga, G.A. (2023), "In Vivo Digestibility of Forages" [Khả năng tiêu hóa thức ăn thô xanh trên động vật sống], Penn State Extension, updated 31 January. https://extension.psu.edu/in-vivo-digestibility-of-forages (Accessed: 15 September 2026).





