Kinh tế số là động lực cho tăng trưởng hai con số
Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã đặt kinh tế số vào trung tâm của mô hình tăng trưởng mới, với mục tiêu đến năm 2030 kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GDP. Điều này đồng nghĩa, chuyển đổi số phải gắn trực tiếp với năng suất, hiệu quả vận hành và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Cùng với định hướng này, hành lang pháp lý cho kinh tế số cũng đang tiếp tục được hoàn thiện. Cụ thể, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 193/2025/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cùng với đó, Nghị định 137/2024/NĐ-CP về giao dịch điện tử và Luật Dữ liệu có hiệu lực từ ngày 1/7/2025 đang từng bước hình thành nền tảng pháp lý cho hoạt động số và phát triển dữ liệu thành tài sản. Tiếp đó, từ ngày 1/1/2026, Luật Công nghiệp công nghệ số có hiệu lực, mở thêm khung pháp lý cho các lĩnh vực như bán dẫn, AI và tài sản số.
Trên nền tảng đó, kinh tế số Việt Nam đang có bước chuyển rõ hơn. Chia sẻ với Reatimes, Chuyên gia kinh tế, TS. Bùi Trinh cho biết, trong kỷ nguyên chuyển đổi số, kinh tế số đang trở thành động lực quan trọng làm thay đổi mối liên kết giữa sản xuất, thu nhập và tiêu dùng. Sự phát triển của công nghệ, nền tảng và dịch vụ số tạo tác động trực tiếp tới từng ngành, đồng thời hình thành các hiệu ứng lan tỏa và tương tác mới trong toàn bộ nền kinh tế.

Chuyên gia kinh tế, TS. Bùi Trinh.
Dẫn nguồn từ Cục Thống kê năm 2025, TS. Bùi Trinh cho biết, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP ước đạt 14%, tương đương khoảng 72 tỷ USD, tăng 1,64 lần so với năm 2020. Kinh tế số đang mở rộng ở cả chiều rộng lẫn chiều sâu, trong đó các ngành kinh tế số lõi chiếm trên 60%. Đồng thời, mức độ số hóa ngày càng lan sang thương mại, tài chính, dịch vụ hành chính và hạ tầng năng lượng.
Giai đoạn 2021 - 2025 cũng đánh dấu sự phát triển nhanh chóng của kinh tế số, trở thành một trong những trụ cột quan trọng của Chiến lược chuyển đổi số quốc gia, đặc biệt sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 57-NQ/TW.
Nhiều lĩnh vực ghi nhận tốc độ tăng trưởng mạnh như thương mại điện tử, thanh toán số, dịch vụ trực tuyến, logistics thông minh và các mô hình kinh doanh dựa trên dữ liệu. Cùng với đó, sự phát triển của Chính phủ số, nhất là định danh điện tử, cơ sở dữ liệu dân cư và dịch vụ công trực tuyến, đang tạo nền tảng giúp giảm chi phí giao dịch, tăng tính minh bạch và củng cố niềm tin trên môi trường số.
"Những yếu tố này đang góp phần mở rộng quy mô kinh tế số và tạo thêm động lực cho tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn mới", theo TS. Bùi Trinh.
Chia sẻ tại Talkshow "Làm thế nào để Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số?", PGS. TS. Trần Đình Thiên, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng, để đạt được mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên, Việt Nam không thể tiếp tục đi theo mô hình cũ. Bởi suốt nhiều thập niên qua, tốc độ tăng trưởng trung bình của nền kinh tế chỉ khoảng 6,5%, trong khi xu hướng dài hạn còn cho thấy đà tăng trưởng đang dần chậm lại. Nếu muốn đảo ngược xu hướng này và bước vào giai đoạn tăng trưởng bứt phá, Việt Nam buộc phải tạo ra những động lực hoàn toàn mới, với cách tiếp cận khác biệt và mang tính đột phá hơn trước.

PGS. TS. Trần Đình Thiên, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam. (Ảnh: Tùng Dương/Reatimes)
"Chuyển đổi số và công nghệ cao được xác định là động lực phát triển dài hạn, thay cho các động lực truyền thống trước đây. Nếu nhìn vào cuộc đua của thời đại toàn cầu hiện nay thì Việt Nam buộc phải hướng vào những động lực mới này. Nghị quyết 57-NQ/TW đã xác định rất rõ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực quan trọng nhất, đồng thời cũng là phương tiện quan trọng nhất cho tăng trưởng trong giai đoạn tới", PGS. TS. Trần Đình Thiên nêu rõ.
Bên cạnh đó, PGS. Thiên cũng cho rằng, nếu trước đây Việt Nam chủ yếu mở cửa để thu hút đầu tư và mở rộng thương mại, thì nay hội nhập đang gắn nhiều hơn với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và các ngành công nghệ cao.
"Việt Nam đang hướng tới việc hình thành các quan hệ hợp tác chiến lược với những quốc gia và tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới. Nếu tận dụng tốt cơ hội hợp tác trong giai đoạn mới, nền kinh tế có thể tạo ra bước phát triển nhanh hơn về công nghệ, năng suất và năng lực cạnh tranh", ông Thiên chia sẻ.
Cần chú trọng hiệu quả lan tỏa của kinh tế số vào nền kinh tế
Dù kinh tế số đang tăng trưởng nhanh, các chuyên gia vẫn cho rằng, vấn đề quan trọng hơn nằm ở khả năng lan tỏa tới nền kinh tế trong nước.
TS. Bùi Trinh nhận định, nếu chỉ nhìn vào quy mô sẽ chưa phản ánh đầy đủ chất lượng phát triển của kinh tế số. Điều cần quan tâm là khu vực này tạo liên kết với sản xuất, thu nhập, tiêu dùng và doanh nghiệp trong nước ở mức độ nào.
Theo đó, nếu chỉ quan tâm tới tỷ trọng giá trị gia tăng của kinh tế số trong GDP, khi áp dụng mô hình Miyazawa(*), tỷ trọng này năm 2024 đạt 19,6%, cao hơn nhiều con số của Cục thống kê công bố (12,87%). Điều này cho thấy khi tính đến các vòng lặp lan tỏa, tầm quan trọng của kinh tế số là rất lớn. Tuy nhiên, hiệu quả lan tỏa của kinh tế số đối với nền kinh tế trong nước đang có xu hướng giảm.
TS. Bùi Trinh chỉ ra, nguyên nhân chủ yếu đến từ sự phụ thuộc lớn vào nhập khẩu và khu vực FDI trong cả sản xuất lẫn tiêu dùng công nghệ số. Khi nhu cầu tăng lên, một phần đáng kể dòng tiền lại chảy ra nước ngoài thông qua nhập khẩu linh kiện, công nghệ, dịch vụ trung gian hoặc chuyển lợi nhuận của khu vực FDI, chứ không tạo thêm giá trị trong nước tương ứng.
"Điều này cho thấy tăng trưởng về quy mô của kinh tế số là cần thiết, nhưng chưa đủ. Vấn đề quan trọng hơn là khả năng hình thành liên kết với doanh nghiệp trong nước, nâng tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa và tạo tác động lan tỏa mạnh hơn tới toàn bộ nền kinh tế", TS. Bùi Trinh nêu.
Để kinh tế số tạo tác động lớn hơn tới nền kinh tế trong nước, chuyên gia cho rằng, chính sách cần tập trung nhiều hơn vào việc nâng tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa và cải thiện khả năng lan tỏa của dòng tiền trong nền kinh tế.
"Một yêu cầu quan trọng là tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của kinh tế số, từng bước giảm phụ thuộc vào nhập khẩu linh kiện, công nghệ và dịch vụ trung gian từ bên ngoài.
Bên cạnh đó, cần có cơ chế phân phối thu nhập hợp lý hơn để tăng trưởng của kinh tế số thực sự chuyển hóa thành thu nhập và sức mua trong nước. Khi thu nhập của người dân được cải thiện, tiêu dùng nội địa sẽ tạo thêm tác động lan tỏa tới sản xuất và giá trị gia tăng trong nền kinh tế", TS. Bùi Trinh chỉ ra.
Còn PGS. TS. Trần Đình Thiên cho rằng, thách thức hiện nay không chỉ nằm ở tốc độ tăng trưởng, mà còn ở yêu cầu nâng năng suất, đổi mới cấu trúc nền kinh tế và thích ứng với các xu hướng công nghệ mới.
Theo chuyên gia, AI, tự động hóa, robot thông minh và sự thay đổi của thị trường lao động sẽ tạo ra sức ép rất lớn trong thời gian tới. Dù hiện nay Việt Nam vẫn là nền kinh tế có tỷ trọng nông nghiệp khá lớn nên tác động chưa bộc lộ quá rõ, nhưng chỉ trong vài năm tới, công nghệ mới có thể làm thay đổi mạnh cơ cấu việc làm và mô hình sản xuất.
"Việt Nam không thể chỉ giải quyết các vấn đề ngắn hạn của nền kinh tế hiện tại, mà phải đồng thời chuẩn bị cho những thay đổi rất nhanh của tương lai", PGS. TS. Trần Đình Thiên nhấn mạnh.
Theo phân tích của ông Thiên, cạnh tranh hiện nay cũng đang thay đổi mạnh dưới tác động của công nghệ. Nếu trước đây, cạnh tranh chủ yếu nằm ở hệ thống kho bãi, cửa hàng vật lý hay vị trí địa lý, thì nay lợi thế ngày càng phụ thuộc vào công nghệ, mô hình kinh doanh và năng lực logistics. Công nghệ đang giúp các doanh nghiệp nước ngoài tiến sâu hơn vào thị trường nội địa, khiến khoảng cách cạnh tranh không còn nằm ở biên giới địa lý mà ngay trong thị trường trong nước.
Vì vậy, theo PGS. TS. Trần Đình Thiên, Việt Nam cần đẩy nhanh quá trình nâng năng suất, phát triển hạ tầng số, logistics, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực công nghệ để thích ứng với sự thay đổi rất nhanh của nền kinh tế toàn cầu.
"Tăng trưởng về số lượng đã là thách thức, nhưng đi cùng với đó, và cũng là cốt lõi của vấn đề, chính là yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng", ông Thiên nhấn mạnh
(*)Mô hình Miyazawa là mô hình phân tích liên ngành được phát triển dựa trên nền tảng của mô hình Input-Output (Đầu vào-Đầu ra); chủ yếu được sử dụng để phân tích cấu trúc thu nhập và sự lan tỏa của tiêu dùng trong nền kinh tế.