Chủ trì phiên họp UBND TP thường kỳ tháng 5, ngày 5/5, Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Vũ Đại Thắng cho biết, việc HĐND TP thông qua Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm và Quốc hội khóa XVI thông qua Luật Thủ đô (sửa đổi) thể hiện kỳ vọng lớn của Trung ương, Quốc hội và Chính phủ đối với Hà Nội, đồng thời mở ra nhiều cơ chế, chính sách mới cho sự phát triển của Thủ đô trong giai đoạn tới.
Nhấn mạnh nhiệm vụ thời gian tới, Chủ tịch Vũ Đại Thắng yêu cầu toàn hệ thống chính trị thành phố tập trung cao độ cho mục tiêu tăng trưởng hai con số, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, gắn với trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan, đơn vị và người đứng đầu. Thành phố đã có đầy đủ điều kiện về cơ chế, chính sách; vấn đề còn lại là tổ chức thực hiện. Nếu các cấp, các ngành quyết tâm cao, hành động quyết liệt, mục tiêu tăng trưởng đề ra hoàn toàn có thể đạt được.
Chủ tịch Hà Nội yêu cầu các đơn vị khẩn trương hoàn thiện các nghị quyết, cơ chế, chính sách để trình HĐND Thành phố thông qua, phấn đấu hoàn thành trước ngày 15/6, nhằm kịp thời triển khai khi luật có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
Trao đổi với Reatimes, KTS. Trần Ngọc Chính, Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam cho biết, việc Quốc hội thông qua Luật Thủ đô (sửa đổi) là một quyết định thể hiện rất rõ ý chí chính trị và tầm nhìn chiến lược đối với Hà Nội.
“Luật Thủ đô (sửa đổi) thể hiện sự tôn vinh vị thế đặc biệt của Thủ đô Hà Nội, vừa là kỳ vọng, vừa giao trách nhiệm cho chính quyền Thủ đô. Hà Nội không chỉ là trung tâm chính trị, văn hóa, xã hội, mà còn phải là “đầu tàu” phát triển của cả nước và hướng tới một Thủ đô mang tầm vóc toàn cầu. Do đó, khát vọng đặt ra cho Hà Nội không chỉ là tăng trưởng kinh tế, mà phải phát triển toàn diện trên nhiều trụ cột: Khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, năng lượng, đổi mới sáng tạo…”, KTS. Trần Ngọc Chính chia sẻ.

KTS. Trần Ngọc Chính, Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam. (Ảnh: Tùng Dương/Reatimes)
Một điểm rất quan trọng nữa là tinh thần phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, theo Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam. Với hàng trăm cơ chế, chính sách đặc thù được trao, Hà Nội sẽ có điều kiện chủ động hơn, không cần phụ thuộc vào cơ chế “xin - cho” như trước. Thành phố có thể tự quyết, tự chịu trách nhiệm; mỗi dự án không phải qua nhiều tầng nấc, tiết kiệm đáng kể thời gian và chi phí so với trước đây.
Đặc biệt, với mô hình chính quyền hai cấp hiện nay, quyền hạn được đẩy mạnh cho cấp cơ sở xã, phường. Chính quyền các cấp sẽ linh hoạt trong triển khai, rút ngắn quy trình và đề cao tính chịu trách nhiệm hơn.
Yêu cầu cấp bách trong thời gian tới là nhanh chóng cụ thể hóa các cơ chế, chính sách mới, đặc biệt là Luật Thủ đô (sửa đổi), thông qua các chương trình hành động cụ thể. Mục tiêu là bảo đảm các lợi thế về thể chế được chuyển hóa thành kết quả và sản phẩm rõ nét, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế.
“Có thể nói, Luật Thủ đô (sửa đổi) đã cố gắng “gỡ” hầu hết các điểm nghẽn lớn mà Hà Nội từng gặp phải trong cơ chế, thủ tục, nguồn lực. Hà Nội đã được trao một quyền hạn lớn như vậy, thì vấn đề còn lại là phải quyết liệt triển khai, biến những cơ chế đó thành động lực phát triển”, KTS. Trần Ngọc Chính nêu.
Cụ thể, Hà Nội cần tập trung vào các vấn đề cốt lõi của một đô thị lớn, trước hết là hạ tầng. Nếu không giải được bài toán giao thông, đặc biệt là hệ thống vận tải công cộng, ùn tắc sẽ tiếp tục là điểm nghẽn. Tương tự, các vấn đề về thoát nước, ô nhiễm môi trường cũng cần được xử lý đồng bộ, với lộ trình và nguồn lực phù hợp.
Yếu tố quyết định vẫn là vai trò của người đứng đầu. Nếu không có sự chỉ đạo thống nhất, quyết liệt và xuyên suốt, các cơ chế dù đầy đủ cũng khó đi vào thực tế. Ngược lại, nếu tổ chức thực hiện hiệu quả, Hà Nội hoàn toàn có thể tận dụng cơ hội từ Luật Thủ đô (sửa đổi) để tạo ra những chuyển biến đột phá.
Bên cạnh đó, KTS. Trần Ngọc Chính nhận định, Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm đã được phê duyệt với tư duy mới: Đa tầng, đa lớp, đa trung tâm, lấy sông Hồng làm trục cảnh quan sinh thái - văn hóa chủ đạo. "Tuy nhiên, để hiện thực hóa, quy hoạch phải được cụ thể hóa bằng các dự án, và quan trọng hơn là phải có nguồn lực tài chính tương ứng", ông Chính nói.
Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm được kỳ vọng tạo nền tảng cho việc hình thành các không gian phát triển mới, với cấu trúc gồm 9 cực phát triển, 9 trung tâm lớn và 9 trục động lực. Các trục này đóng vai trò như "xương sống" kết nối các khu vực, hình thành hệ sinh thái không gian kinh tế đô thị đồng bộ, trong đó trục cảnh quan sông Hồng giữ vị trí đặc biệt.
Tuy nhiên, để những định hướng này đi vào thực tiễn, một thách thức lớn là khả năng huy động nguồn lực, đặc biệt là từ khu vực tư nhân. Thực tế triển khai cho thấy, bài toán nguồn lực cho các dự án quy mô lớn, chẳng hạn như Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng, không phải là chuyện đơn giản. Sau khi một số doanh nghiệp rút khỏi liên danh, cơ cấu nhà đầu tư dự án đã có sự thay đổi đáng kể.
Theo hồ sơ đề xuất chấp thuận chủ trương trình UBND TP. Hà Nội tháng 4/2026, liên danh nhà đầu tư hiện gồm 3 doanh nghiệp (ban đầu gồm 6 doanh nghiệp): Công ty cổ phần Địa ốc Đại Quang Minh, Công ty cổ phần Tập đoàn Trường Hải (Thaco Group) và Công ty cổ phần Tập đoàn Hòa Phát. Diễn biến này phần nào cho thấy những thách thức trong việc thu hút và duy trì sự tham gia của khu vực tư nhân đối với các dự án quy mô lớn.
Chia sẻ với Reatimes, PGS.TS.KTS. Đỗ Tú Lan, Ủy viên BCH Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam, nguyên Phó Cục trưởng Cục Phát triển đô thị (Bộ Xây dựng) cho biết, ở giai đoạn hiện nay, quy hoạch sông Hồng đang được tiếp cận theo hướng quyết liệt hơn, với mục tiêu hình thành trục cảnh quan sinh thái - văn hóa mang tính biểu tượng của Thủ đô. Đây là định hướng có giá trị dài hạn, nhưng để hiện thực hóa, bắt buộc phải cụ thể hóa thành các dự án với những quy mô khác nhau.
"Quy mô toàn tuyến sông Hồng rất lớn, không một doanh nghiệp nào có thể đảm nhận toàn bộ. Do đó, việc huy động sự phối hợp từ khu vực tư nhân là cần thiết, nhưng phải có chọn lọc, bảo đảm các doanh nghiệp tham gia có đủ năng lực tài chính, kinh nghiệm và đáp ứng các tiêu chí phát triển bền vững. Đồng thời, nhà đầu tư cần biết rõ họ được gì, cơ chế ưu đãi ra sao, thủ tục triển khai như thế nào. Nếu không minh bạch và ổn định, sẽ rất khó thu hút nguồn lực xã hội", PGS.TS.KTS. Đỗ Tú Lan nêu quan điểm.

PGS.TS.KTS. Đỗ Tú Lan, nguyên Phó Cục trưởng Cục Phát triển đô thị (Bộ Xây dựng).
Nhìn vào thực tế, vị chuyên gia chỉ ra, việc phát triển không gian sông Hồng hiện đối mặt với hai nhóm thách thức lớn, đòi hỏi phải có cách tiếp cận tổng thể cả về kỹ thuật, xã hội và nguồn lực.
Trước hết, khu vực ven sông hiện có mật độ dân số cao, với nhiều cộng đồng sinh sống ổn định qua thời gian dài. Vì vậy, bài toán không chỉ dừng ở quy hoạch không gian, mà là xử lý hài hòa mối quan hệ với cộng đồng dân cư hiện hữu.
"Làm thế nào để "chuyển hóa" không gian mà vẫn bảo đảm quyền lợi, sinh kế và sự ổn định xã hội là thách thức rất phức tạp. Nếu doanh nghiệp chỉ trông chờ Nhà nước hoàn tất giải phóng mặt bằng rồi mới tham gia đầu tư thì gần như không khả thi. Ngân sách Nhà nước có thể hỗ trợ một phần công tác đền bù, nhưng khó có thể thực hiện "giải tỏa trắng" do hạn chế về nguồn lực và tác động xã hội lớn. Do đó, các doanh nghiệp tham gia cần chủ động xây dựng phương án phù hợp, có cả mô hình tái định cư, khai thác và phát triển không gian theo hướng hài hòa lợi ích", PGS.TS.KTS. Đỗ Tú Lan nêu quan điểm.
Khó khăn thứ hai là yếu tố kỹ thuật. Chuyên gia cho biết, sông Hồng có chế độ thủy văn phức tạp, dòng chảy biến động lớn, tiềm ẩn rủi ro về sạt lở và an toàn công trình. Vì vậy, việc phát triển hai bên bờ sông phải xử lý bài toán tổng hợp về thủy lợi, phòng chống lũ, môi trường và ổn định hạ tầng nền. Các hạng mục này đòi hỏi giải pháp kỹ thuật đồng bộ, chi phí lớn và công nghệ cao.
Đây là những yếu tố nền tảng bắt buộc phải xử lý trước khi triển khai các dự án. Nếu không giải quyết được bài toán kỹ thuật, các bước tiếp theo sẽ rất khó khả thi.
Từ thực tế đó, bà Lan cho rằng, vấn đề nguồn lực trở thành yếu tố quyết định. Nhà nước không thể một mình đảm đương toàn bộ các hạng mục có quy mô lớn và phức tạp như vậy. Việc huy động khu vực tư nhân là tất yếu, không chỉ về vốn mà còn về công nghệ, kinh nghiệm và năng lực tổ chức triển khai.
Tuy nhiên, sự tham gia của doanh nghiệp cần được đặt trong một thiết kế tổng thể rõ ràng, với sự "phân vai" cụ thể giữa Nhà nước và khu vực tư nhân. "Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong hạ tầng nền tảng, nhưng doanh nghiệp cũng cần chia sẻ trách nhiệm và rủi ro tương xứng với quy mô vốn và khối lượng công việc của dự án", bà Lan nói.
Để làm được điều đó, cần một khung cơ chế đủ rõ ràng, bảo đảm quyền khai thác và khả năng hoàn vốn tương xứng với quy mô đầu tư. Đồng thời, các phương án triển khai phải bảo đảm sự đồng thuận xã hội, trong đó người dân được thụ hưởng lợi ích cụ thể từ quá trình phát triển.
Tuy nhiên, một thách thức lớn là nếu không thực hiện di dời dân cư ở quy mô đủ lớn, quỹ đất sạch sẽ hạn chế, khó tạo giá trị gia tăng để thu hút đầu tư. Ngược lại, nếu di dời nhiều, sẽ phát sinh những vấn đề xã hội phức tạp. Đây là bài toán cần được cân đối thận trọng, theo PGS.TS.KTS. Đỗ Tú Lan.
Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam Trần Ngọc Chính cũng nhìn nhận, nguồn lực Nhà nước là hữu hạn và chủ yếu đóng vai trò dẫn dắt thông qua cơ chế, chính sách và đầu tư hạ tầng khung. Với các dự án quy mô lớn, đặc biệt là hệ thống đường sắt đô thị (Metro) có tổng mức đầu tư rất lớn, ngân sách khó có thể đáp ứng toàn bộ. Trong bối cảnh đó, nguồn vốn từ khu vực doanh nghiệp tư nhân và nguồn lực xã hội có vai trò lớn.
Ở góc độ phát triển không gian, đặc biệt là khu vực sông Hồng, cần có cách tiếp cận bài bản hơn. KTS. Trần Ngọc Chính cho rằng, Nhà nước tập trung vào các hạng mục nền tảng như nạo vét lòng sông, xây dựng hạ tầng khung. Doanh nghiệp có thể tham gia vào phát triển cảnh quan, không gian xanh, các công trình dịch vụ, thương mại dọc hai bờ.
Với chiều dài hàng chục kilomet dọc sông Hồng, khối lượng công việc là rất lớn, gồm nhiều dự án, nhiều hạng mục khác nhau. Do đó, cần phân chia rõ ràng để các bên cùng tham gia triển khai. Nhưng quan trọng nhất là phải có một đầu mối đủ thẩm quyền, đủ năng lực đóng vai trò "nhạc trưởng", điều phối tổng thể, tránh tình trạng manh mún, chồng chéo.
Việc triển khai cũng phải đi vào từng dự án cụ thể, với quy hoạch đã có thì cần cụ thể hóa bằng danh mục đầu tư, cơ chế thực hiện, tiến độ rõ ràng. Các quy định, quy chế cần bám sát khung pháp lý mà Quốc hội vừa thông qua, đặc biệt là các nội dung liên quan đến quy hoạch Thủ đô và quy hoạch sông Hồng.
Về tổ chức nguồn lực, ông Chính cho rằng, cần phân định rõ ràng giữa vốn Trung ương, vốn của thành phố, vốn địa phương và vốn xã hội hóa, trong đó có cả nhà đầu tư nước ngoài. Mỗi nguồn vốn phải có cơ chế riêng, minh bạch, ổn định, để các bên yên tâm tham gia.
Bên cạnh đó, phát triển, khai thác hiệu qủa mô hình phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng (TOD) cũng là một trong những giải pháp gia tăng nguồn lực để phục vụ việc thực hiện các dự án trong quy hoạch.
Theo PGS.TS.KTS. Đỗ Tú Lan, TOD là giải pháp tổ chức lại không gian đô thị, đồng thời, mở ra dư địa rất lớn để khai thác nguồn lực đất đai và hình thành nguồn thu để tái đầu tư hạ tầng.
"Khi các tuyến metro và các trục giao thông động lực được hình thành, giá trị đất đai tại các khu vực quanh điểm dừng sẽ tăng mạnh. Đây chính là cơ sở để Hà Nội khai thác nguồn lực từ đất đai thông qua đấu giá, phát triển bất động sản, thương mại, dịch vụ và các không gian đô thị tích hợp. Mỗi điểm TOD không chỉ là một ga giao thông, mà có thể trở thành một cực phát triển mới, tập trung nhà ở, thương mại, dịch vụ, quảng trường công cộng và các hoạt động kinh tế đô thị. Đây cũng là những khu vực có khả năng thu hút rất mạnh nguồn vốn tư nhân", bà Lan cho biết.
Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả giá trị gia tăng từ đất đai, bà Lan cho rằng, Nhà nước phải đi trước trong công tác quy hoạch, xác định rõ chức năng từng khu vực, cơ chế khai thác quỹ đất và phương thức thu hút doanh nghiệp đầu tư. Nếu quy hoạch tốt và có cơ chế phù hợp, các trục TOD hoàn toàn có thể trở thành không gian thu hút đầu tư quy mô lớn, góp phần giải bài toán nguồn lực cho phát triển Thủ đô trong giai đoạn tới.
