Aa

Tăng trưởng dựa vào tín dụng: Động lực, mâu thuẫn và những giới hạn cần vượt qua

Thứ Sáu, 17/04/2026 - 14:42

Ngân hàng là trụ cột dẫn vốn của nền kinh tế, nhưng chính sự phụ thuộc lớn vào kênh này cũng khiến cấu trúc nguồn lực bộc lộ những lệch pha và giới hạn, đặc biệt trong việc đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn. Trong bối cảnh đó, bài toán không chỉ là “chia lửa” cho ngân hàng, mà là tái thiết cấu trúc vốn gắn với chuyển đổi động cơ tăng trưởng.

Sau hơn 40 năm Đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, song cũng bắt đầu bộc lộ những giới hạn mang tính cấu trúc. Mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào mở rộng vốn đầu tư và tận dụng lợi thế lao động giá rẻ đang dần chạm ngưỡng, trong khi yêu cầu đặt ra cho giai đoạn tới không chỉ là duy trì tốc độ, mà là bứt phá về chất lượng và vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Chia sẻ với Reatimes, GS. TS. Hoàng Văn Cường, nguyên Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, nguyên Phó Hiệu trưởng Đại học Kinh tế Quốc dân nhấn mạnh rằng, nếu tiếp tục đi theo quỹ đạo tăng trưởng "an toàn" như nhiều quốc gia khác, Việt Nam rất khó vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Theo ông, vấn đề không chỉ nằm ở tốc độ tăng trưởng, mà ở động cơ của nền kinh tế vẫn còn phụ thuộc vào vốn và lao động, trong khi các yếu tố quyết định giá trị gia tăng như công nghệ, đổi mới sáng tạo và vị trí trong chuỗi giá trị chưa thực sự trở thành trụ cột.

Chính trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra là hình thành những tập đoàn kinh tế đủ lớn để dẫn dắt các ngành công nghiệp nền tảng và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Trao đổi tại Hội thảo "40 năm Đổi mới: Vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế" mới đây, ông Nguyễn Ngọc Cảnh, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cũng khẳng định các tập đoàn kinh tế đang giữ vai trò "xương sống" và là lực lượng dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế.

Tuy nhiên, để những "đầu tàu" này có thể vận hành và mở rộng, một điều kiện tiên quyết là phải có nguồn lực tài chính đủ lớn và ổn định. Trong bối cảnh thị trường vốn chưa phát triển tương xứng, hệ thống ngân hàng tiếp tục giữ vai trò trung tâm trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. Thế nhưng, sự phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng cũng đặt ra một vấn đề căn bản về tính bền vững của chính mô hình tăng trưởng.

Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, sau 40 năm Đổi mới, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, không chỉ về quy mô mà cả về năng lực cung ứng vốn. Đến ngày 31/12/2025, hệ thống gồm 127 tổ chức tín dụng với tổng tài sản gần 28,9 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 22% so với năm trước; huy động vốn tăng 15,42% so với cuối năm 2024. Quy mô hệ thống đã tăng gần 2.000 lần sau gần bốn thập kỷ.

Ông Nguyễn Ngọc Cảnh cho biết thêm, đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng của nền kinh tế đạt khoảng 18,6 triệu tỷ đồng, tăng 19,07% so với cuối năm 2024, tương đương 144% GDP. Trong đó, tín dụng đối với doanh nghiệp chiếm khoảng 48% tổng dư nợ toàn nền kinh tế; còn dư nợ đối với các tập đoàn, tổng công ty chiếm khoảng 7%.

Những con số này cho thấy, sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng Việt Nam không chỉ góp phần cung cấp nguồn lực và dịch vụ tài chính cho cộng đồng doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế, mà bản thân sự lớn mạnh của hệ thống tài chính - ngân hàng cũng là một động lực quan trọng thúc đẩy khu vực doanh nghiệp Việt Nam phát triển.

Không chỉ dừng lại ở vai trò cung ứng vốn, nhiều ngân hàng thương mại hiện nay còn chủ động định vị mình như một phần của "nền kinh tế thực". Ông Đỗ Quang Vinh, Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Phó Tổng Giám đốc SHB cho biết, ngân hàng này đang định hướng tập trung tài trợ vào các lĩnh vực nền tảng như năng lượng, công nghiệp, nông nghiệp, hạ tầng và xuất khẩu - những khu vực có vai trò cốt lõi đối với tăng trưởng và ổn định kinh tế.

Điều này cho thấy, trong thực tế, dòng tín dụng không chỉ đơn thuần là dòng vốn, mà còn là công cụ định hướng phân bổ nguồn lực. Khi ngân hàng lựa chọn lĩnh vực ưu tiên, họ đồng thời tham gia vào quá trình định hình cấu trúc phát triển của nền kinh tế.

Tăng trưởng dựa vào tín dụng: Động lực, mâu thuẫn và những giới hạn cần vượt qua- Ảnh 1.
Tăng trưởng dựa vào tín dụng: Động lực, mâu thuẫn và những giới hạn cần vượt qua- Ảnh 2.

Trong thực tế, dòng tín dụng không chỉ đơn thuần là dòng vốn, mà còn là công cụ định hướng phân bổ nguồn lực. (Ảnh minh họa: Ngân hàng SHB)

Vai trò ngày càng quan trọng và có xu hướng mở rộng của tín dụng ngân hàng đồng thời phản ánh một thực tế đáng chú ý, đó là cấu trúc nguồn lực của nền kinh tế vẫn nghiêng mạnh về tín dụng, trong khi các kênh vốn trung và dài hạn khác chưa phát triển tương xứng.

Với thị trường trái phiếu doanh nghiệp, ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch FiinGroup chỉ ra rằng, điểm nghẽn lớn hiện nay không chỉ nằm ở phía cung hàng hóa, mà còn ở phía cầu từ nhà đầu tư, khi các nhà đầu tư tổ chức trong nước chưa tham gia đủ mạnh, còn nhà đầu tư nước ngoài gần như vắng bóng, khiến cầu thị trường vẫn còn rất hạn chế.

Ngay cả với nguồn lực lớn từ ngành bảo hiểm - khoảng 30 tỷ USD tài sản đầu tư (không tính Bảo hiểm xã hội Việt Nam), tỷ trọng phân bổ vào trái phiếu doanh nghiệp vẫn ở mức thấp. Bên cạnh đó, nếu không tính trái phiếu ngân hàng, tổng phát hành của doanh nghiệp phi ngân hàng năm ngoái mới chỉ khoảng 200 nghìn tỷ đồng, vẫn còn khá nhỏ so với vai trò kỳ vọng. Điều này khiến cho dòng vốn trung và dài hạn chưa được khơi thông hiệu quả, buộc nền kinh tế tiếp tục dựa vào hệ thống ngân hàng như kênh tài trợ chủ đạo.

Trong bối cảnh đó, sự lệch pha giữa cấu trúc nguồn vốn và nhu cầu sử dụng vốn đang trở nên rõ nét hơn. Các dự án, công trình trọng điểm quốc gia đang cần đáp ứng nhu cầu lớn về vốn trung, dài hạn; các tập đoàn kinh tế cũng đang ngày càng triển khai nhiều dự án có vòng đời dài, đòi hỏi nguồn vốn trung và dài hạn ổn định. Trong khi đó, nguồn vốn huy động của ngân hàng vẫn chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn (chiếm khoảng 80%). Việc ngân đang phải gánh áp lực cho vay vốn trung và dài hạn phục vụ cho các mục tiêu tăng trưởng đang làm gia tăng rủi ro kỳ hạn, đồng thời, tiềm ẩn nguy cơ gia tăng nợ xấu, gây áp lực lên thanh khoản và ảnh hưởng đến an toàn hệ thống, nhất là khi doanh nghiệp hoặc nền kinh tế gặp biến động bất lợi.

Tăng trưởng dựa vào tín dụng: Động lực, mâu thuẫn và những giới hạn cần vượt qua- Ảnh 3.

Sự lệch pha giữa cấu trúc nguồn vốn và nhu cầu sử dụng vốn không chỉ tạo áp lực lên hệ thống tài chính, mà còn làm gia tăng rủi ro thanh khoản và rủi ro tái cấp vốn trong dài hạn. (Ảnh minh họa: Báo Chính phủ)

Nhìn từ góc độ quản lý, những dấu hiệu của sự mất cân đối này cũng đã được nhận diện. Bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành Kinh tế, Ngân hàng Nhà nước cảnh báo rằng tốc độ tăng trưởng tín dụng đang cao hơn tốc độ huy động vốn, qua đó tiềm ẩn rủi ro thanh khoản cho hệ thống ngân hàng.

"Cuối năm 2024, tín dụng tăng 19,07%, trong khi huy động vốn chỉ tăng khoảng 14,5%. Đến cuối tháng 3 năm nay, tín dụng tăng khoảng 2,45%, nhưng huy động mới chỉ đạt khoảng 0,31%.

Nếu nền kinh tế phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng, mô hình tăng trưởng đó sẽ thiếu tính bền vững", đại diện Vụ Tín dụng các ngành Kinh tế dẫn số liệu và nhận định.

Bên cạnh đó, các chuyên gia đánh giá, tỷ lệ tín dụng/GDP hiện đã vượt mức 144% cho thấy quy mô tín dụng đang vượt xa khả năng tạo ra thu nhập của nền kinh tế. Đây là dấu hiệu của một cấu trúc tài chính thiếu bền vững. Chính sách tiền tệ theo đó khó có thể tiếp tục gánh vai trò cung ứng vốn chủ đạo như trước, đồng thời, hiệu quả sử dụng vốn cũng là bài toán cần đặt ra.

Tín dụng ngân hàng hiện vẫn là động lực quan trọng giúp nền kinh tế duy trì tăng trưởng và nuôi dưỡng các "đầu tàu". Tuy nhiên, để bảo đảm sự cân đối trong cấu trúc tăng trưởng, gia tăng tính bền vững và kiểm soát rủi ro, yêu cầu đặt ra là phải sớm giảm sự phụ thuộc của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng thông qua việc thúc đẩy các giải pháp đa dạng hóa kênh huy động vốn trung và dài hạn.

Đại diện Standard Chartered Việt Nam nhấn mạnh, để đáp ứng nhu cầu vốn rất lớn cho giai đoạn tăng trưởng mới, Việt Nam cần nhìn bài toán nguồn lực theo hai cấu phần chính: Vốn chủ sở hữu (equity) và vốn nợ (debt). Nhu cầu vốn cho giai đoạn tới là khoảng 38 triệu tỷ đồng, trong khi nguồn từ Nhà nước chỉ chiếm khoảng 8,5 triệu tỷ đồng. Phần còn lại buộc phải được huy động từ khu vực tư nhân, thị trường vốn và các nguồn lực quốc tế.

Với vốn chủ sở hữu, cần đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn Nhà nước, đồng thời thúc đẩy tái cấu trúc doanh nghiệp gắn với thị trường chứng khoán để tạo thêm hàng hóa chất lượng cho thị trường.

Tăng trưởng dựa vào tín dụng: Động lực, mâu thuẫn và những giới hạn cần vượt qua- Ảnh 4.

Giải pháp không thể chỉ dừng ở việc "chia lửa" cho hệ thống ngân hàng, mà cần một cách tiếp cận rộng hơn: Tái thiết cấu trúc vốn đồng thời chuyển đổi động cơ tăng trưởng. (Ảnh minh họa: TTXVN)

Song song với đó, Việt Nam cần thu hút mạnh hơn FDI thông qua các thương vụ private equity, hướng tới các nhà đầu tư lớn, dài hạn. Việc thị trường chứng khoán tiến gần mục tiêu nâng hạng cũng sẽ mở thêm dư địa cho dòng vốn đầu tư gián tiếp quốc tế.

Bên cạnh đó, cần khơi thông hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế, bao gồm cả nguồn vốn trong dân cư, kể cả các tài sản đang nằm trong vàng. "Nếu khơi thông tốt nguồn lực này, khu vực kinh tế tư nhân sẽ có thêm dư địa phát triển rất lớn", bà Nguyễn Thúy Hạnh, Tổng Giám đốc Standard Chartered Việt Nam nhấn mạnh.

Một hướng đi đáng chú ý khác là tài trợ chuỗi, giúp kết nối hiệu quả hơn nguồn vốn từ ngân hàng, doanh nghiệp và cả dòng tiền trong dân cư vào các hệ sinh thái sản xuất - kinh doanh. Theo đại diện Standard Chartered Việt Nam, muốn đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam không chỉ cần nhiều vốn hơn, mà quan trọng hơn là phải thiết kế lại cấu trúc vốn theo hướng cân bằng giữa vốn chủ sở hữu, vốn nợ các nguồn lực trong dân cư, quốc tế.

Tuy nhiên, việc đa dạng hóa nguồn vốn mới chỉ là một phần, về bản chất, giải pháp không thể chỉ dừng ở việc “chia lửa” cho hệ thống ngân hàng, mà cần một cách tiếp cận rộng hơn: Tái thiết cấu trúc vốn đồng thời chuyển đổi động cơ tăng trưởng.

Trong bối cảnh đó, vấn đề không chỉ nằm ở quy mô hay cơ cấu nguồn vốn, mà còn ở hiệu quả sử dụng vốn và chất lượng tăng trưởng. Nguồn tín dụng lớn được bơm vào nền kinh tế, đặc biệt thông qua các tập đoàn và dự án quy mô lớn - nếu vẫn tập trung ở các khâu có giá trị gia tăng thấp, thì hiệu quả lan tỏa của dòng vốn sẽ bị hạn chế. GS. TS. Hoàng Văn Cường nhận định Việt Nam vẫn đang ở vị trí thấp trong chuỗi giá trị toàn cầu, nên ngay cả khi năng suất tăng, giá trị giữ lại trong nền kinh tế vẫn chưa tương xứng.

Điều này cho thấy dư địa của mô hình tăng trưởng dựa vào vốn đang dần thu hẹp. Nói cách khác, bài toán không chỉ là có bao nhiêu vốn, mà quan trọng là vốn được sử dụng có thể tạo ra giá trị gì.

Từ góc độ vận hành, đại diện Vụ Tín dụng các ngành Kinh tế đưa ra một số khuyến nghị.

Thứ nhất, các tập đoàn cần thực sự đóng vai trò đầu tàu trong việc hình thành và dẫn dắt các chuỗi liên kết với doanh nghiệp vệ tinh. Bà Phạm Thị Thanh Tùng đưa ra ví dụ, Vingroup đã xây dựng được một hệ sinh thái khá hoàn chỉnh. Khi một dự án được triển khai, ngay lập tức kéo theo nhiều doanh nghiệp vệ tinh cùng tham gia, từ xây dựng, vật liệu cho tới các dịch vụ liên quan. Điều đó cho thấy bản thân các tập đoàn phải chủ động định hình chuỗi giá trị của mình, trong khi Nhà nước cần tiếp tục tạo môi trường kinh doanh thuận lợi để hỗ trợ quá trình này.

Thứ hai, cần đánh giá lại hiệu quả thực thi các chính sách, đặc biệt là sau gần một năm triển khai Nghị quyết 68, để những giải pháp hiệu quả tiếp tục được thúc đẩy mạnh hơn trong thực tế.

Thứ ba, từ góc độ ngân hàng, cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp và hệ sinh thái là yếu tố đặc biệt quan trọng trong thẩm định tín dụng. Bà nhấn mạnh yêu cầu cần xây dựng một cơ sở dữ liệu quốc gia về các tập đoàn, tổng công ty và hệ sinh thái, bảo đảm tính minh bạch về tài chính và hoạt động. Điều này không chỉ giúp hệ thống ngân hàng thuận lợi hơn trong cấp tín dụng mà còn hỗ trợ tốt hơn cho sự phát triển của doanh nghiệp và nền kinh tế nói chung.

Tuy nhiên, tất cả những giải pháp trên sẽ chỉ mang tính điều chỉnh nếu không giải quyết được vấn đề cốt lõi hơn, đó là động cơ của mô hình tăng trưởng. Như GS. TS. Hoàng Văn Cường đã nhấn mạnh, Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào mô hình tăng trưởng "an toàn" dựa trên vốn và lao động, mà cần chuyển sang một mô hình mới, nơi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu trở thành yếu tố quyết định.

Điều đó cũng có nghĩa là trong dài hạn, vai trò của vốn, bao gồm cả tín dụng ngân hàng sẽ phải thay đổi. Thay vì là yếu tố dẫn dắt tăng trưởng, vốn cần trở thành yếu tố hỗ trợ cho những động lực mới như công nghệ, dữ liệu và năng suất.

Từ góc nhìn này, có thể thấy rõ: Nếu không đổi "động cơ" tăng trưởng, thì dù có mở rộng tín dụng hay phát triển thêm các kênh vốn, nền kinh tế vẫn sẽ quay lại quỹ đạo cũ. Ngược lại, khi cấu trúc nguồn lực được tái thiết gắn với một mô hình tăng trưởng dựa trên chất lượng và đổi mới, mối quan hệ giữa ngân hàng và các tập đoàn sẽ không còn là điểm nghẽn, mà có thể trở thành nền tảng cho một chu kỳ phát triển bền vững hơn./.

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Thương hiệu dẫn đầu

Lên đầu trang
Top