Thí điểm cơ chế Nhà nước mua lại dự án nhà ở thương mại "đắp chiếu": Gỡ một nút thắt, mở nhiều nguồn lực

Thí điểm cơ chế Nhà nước mua lại dự án nhà ở thương mại "đắp chiếu": Gỡ một nút thắt, mở nhiều nguồn lực

Thứ Năm, 20/08/2026 - 06:08

Nghị quyết 21-NQ/TW mở hướng thí điểm thực hiện cơ chế Nhà nước mua lại những dự án nhà ở thương mại không còn khả năng thực hiện hoặc không thể chuyển nhượng. Cơ chế này được kỳ vọng đưa đất đai, vốn và tài sản đang bị ứ đọng trở lại vòng quay phát triển, hạn chế lãng phí nguồn lực, đồng thời tạo thêm quỹ nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước đáp ứng nhu cầu của người dân. Tuy nhiên, quá trình xây dựng cơ chế cần bảo đảm quyền lợi của người mua nhà và không chuyển rủi ro kinh doanh của chủ đầu tư cũ sang ngân sách.

Ngày 28/7/2026, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan. Bên cạnh những định hướng lớn về quy hoạch, giao đất, thu hồi đất, giá đất và điều tiết địa tô chênh lệch, Nghị quyết giao nghiên cứu thí điểm cơ chế Nhà nước mua lại dự án nhà ở thương mại của chủ đầu tư không còn khả năng thực hiện hoặc không thể chuyển nhượng nhằm tạo quỹ nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước, đáp ứng nhu cầu nhà ở của Nhân dân trên cơ sở tính đúng, tính đủ, hợp lý chi phí đầu vào của chủ đầu tư, không bao gồm địa tô chênh lệch. 

Cùng ngày, Bộ Chính trị ban hành Kế hoạch số 07-KH/TW, trong đó phân công Đảng ủy Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo ban hành nghị quyết của Quốc hội về cơ chế thí điểm, đồng thời giao Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo xây dựng và trình Quốc hội ban hành nghị quyết này. Thời hạn hoàn thành được xác định trong năm 2027.

Theo thông tin được Bộ Xây dựng công bố từ kết quả rà soát của Ban Chỉ đạo 751 vào tháng 6/2026, cả nước có khoảng 4.500 dự án bất động sản gặp khó khăn, vướng mắc, với hơn 3,3 triệu tỷ đồng vốn đầu tư bị ứ đọng. Hơn 1.000 dự án đã được tháo gỡ, qua đó khơi thông trên 800.000 tỷ đồng. Những con số này cho thấy sự đình trệ của các dự án không còn là vấn đề riêng của từng doanh nghiệp, mà đã trở thành lực cản đối với sự lưu chuyển nguồn lực của toàn bộ nền kinh tế. Đất đai không được khai thác, vốn đầu tư bị chôn trong công trình dở dang, hạ tầng đã hình thành có nguy cơ xuống cấp và nhiều nguồn lực liên quan không được đưa vào sử dụng.

Nghị quyết 21-NQ/TW hướng đến một nhóm cụ thể gồm những dự án nhà ở thương mại mà chủ đầu tư không còn khả năng thực hiện hoặc không thể chuyển nhượng, đồng thời phù hợp với mục tiêu tạo lập quỹ nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước.

Xoay quanh vấn đề này, Tạp chí Bất động sản Việt Nam (Reatimes) đã có cuộc trao đổi với TS. Thái Thị Quỳnh Như - nguyên Viện trưởng Viện Quản lý đất đai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Nghiên cứu viên cao cấp Viện Nghiên cứu Bất động sản Việt Nam (VIRES) và luật sư Nguyễn Tiến Lập - thành viên Văn phòng luật sư NHQuang và Cộng sự, Trọng tài viên Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam. 

- Nghị quyết 21-NQ/TW đặt ra định hướng thí điểm Nhà nước mua lại dự án nhà ở thương mại mà chủ đầu tư không còn khả năng thực hiện hoặc không thể chuyển nhượng. Theo các chuyên gia, chủ trương này có ý nghĩa như thế nào trong bối cảnh vẫn còn nhiều dự án bất động sản đang tồn đọng kéo dài?

Luật sư Nguyễn Tiến Lập: Trước hết, cần nhìn nhận đây không đơn thuần là giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bất động sản, mà là một công cụ chính sách nhằm khơi thông những nguồn lực xã hội đang bị mắc kẹt trong các dự án đình trệ.

Ở góc độ kinh tế, việc khơi thông các dự án đình trệ không chỉ giải phóng đất đai và vốn đầu tư đang nằm lại trong những công trình dang dở. Lĩnh vực bất động sản và xây dựng còn có quan hệ mật thiết với các vấn đề như nguồn vốn đầu tư xã hội, công nghiệp sản xuất vật liệu và thiết bị, phát triển dịch vụ mới, việc làm... Vì vậy, khi một dự án ngừng triển khai, tác động không dừng lại ở chủ đầu tư mà còn lan sang nhiều lĩnh vực khác.

Về chủ trương triển khai, cần nhìn nhận rõ đây là dự án thương mại, do đó tính khả thi hay thanh khoản thị trường phải được đặt lên hàng đầu. Có nghĩa rằng biện pháp can thiệp và tiếp quản của Nhà nước nhằm mục tiêu giải quyết nhanh chóng, toàn diện và hiệu quả các vướng mắc phát sinh theo từng dự án cụ thể, đặc biệt là các vướng mắc pháp lý, trên cơ sở đó tạo điều kiện để khơi thông, khôi phục hay thúc đẩy tính khả thi thương mại của dự án, bao gồm cả việc tiếp tục huy động vốn từ thị trường để tiếp tục triển khai, hoàn thành. Tuy nhiên, cũng còn nhiều nội dung của chính sách rất cần được làm rõ. Chẳng hạn, nếu Nhà nước bỏ vốn ngân sách ra mua lại dự án thì sau đó sẽ làm gì, quản lý và khai thác ra sao? 

Từ góc độ xã hội, những dự án đã huy động tiền của khách hàng nhưng chậm bàn giao còn kéo theo tranh chấp dân sự, áp lực trả nợ và sự suy giảm niềm tin của người mua nhà. Việc xử lý các dự án này vì thế không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn góp phần giải quyết những hệ lụy xã hội đã kéo dài trong nhiều năm.

Xét tổng thể, tôi cho rằng chủ trương này có ý nghĩa rất tích cực. Nếu lựa chọn đúng dự án, Nhà nước có thể bảo toàn phần tài sản hợp pháp còn giá trị, đưa đất đai và công trình dang dở trở lại vòng quay phát triển, đồng thời bổ sung quỹ nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước để đáp ứng nhu cầu của người dân. Trong một số trường hợp, phương án này còn có thể rút ngắn thời gian và tiết kiệm nguồn lực so với việc đầu tư một dự án hoàn toàn mới.

Từ góc độ thể chế, đây là một hình thức Nhà nước can thiệp vào thị trường. Theo tôi, có thể coi đó là biện pháp "cực chẳng đã", nhưng cần thiết trong bối cảnh năng lực tự xử lý và tự phục hồi của một bộ phận doanh nghiệp đã suy giảm, thậm chí không còn khả năng tiếp tục triển khai dự án. Nếu tiếp tục để các dự án đình trệ, nguồn lực xã hội sẽ ngày càng bị lãng phí và những hệ lụy đối với nền kinh tế cũng tiếp tục kéo dài.

TS. Thái Thị Quỳnh Như: Tôi cũng cho rằng, đây là một chủ trương cấp thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai, tránh lãng phí tài nguyên và thất thoát ngân sách nhà nước. Các dự án đã được phê duyệt nhưng chậm triển khai hoặc không còn đủ điều kiện để chuyển nhượng gây nhiều khó khăn cho quy hoạch sử dụng đất nói chung và quy hoạch chỉnh trang đô thị của khu vực nói riêng.

Đối với các doanh nghiệp đầu tư bất động sản sử dụng giá trị quyền sử dụng đất của dự án làm tài sản bảo đảm để huy động vốn thông qua vay ngân hàng, phát hành trái phiếu…, việc dự án đình trệ sẽ rất khó xử lý nếu không có biện pháp phù hợp. Một số dự án đã mở bán nhưng chậm bàn giao sản phẩm còn gây ra hệ lụy dân sự, khiếu kiện kéo dài giữa người mua và chủ đầu tư, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của thị trường bất động sản.

Nghị quyết 21-NQ/TW đặt ra định hướng thí điểm cơ chế Nhà nước mua lại dự án nhà ở thương mại của chủ đầu tư không còn khả năng thực hiện hoặc không thể chuyển nhượng để tạo quỹ nhà thuộc sở hữu Nhà nước, qua đó mở ra hướng giải quyết cho một vấn đề khó khăn, nhạy cảm đã tồn đọng nhiều năm. Có thể đề xuất cơ chế Nhà nước nhận chuyển nhượng dự án căn cứ vào thực trạng cụ thể, sau đó giao cho chủ đầu tư khác tiếp tục triển khai hoặc đưa vào quỹ nhà thuộc sở hữu Nhà nước.

Tuy nhiên, đối với phạm vi "quỹ nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước", có một số vấn đề cần lưu ý. Bởi đây là vấn đề lớn, liên quan đến cơ chế tài chính để tạo lập và duy trì quỹ nhà, đặc biệt, nguồn vốn sử dụng sẽ là vốn ngân sách nhà nước. Nguồn thu sau này cũng có thể hạn chế do hình thức khai thác chủ yếu là cho thuê, thuê mua hoặc bán theo cơ chế của nhà ở công vụ, tái định cư, nhà ở xã hội. Mặt khác, nếu quy mô quỹ nhà được mở rộng, đơn vị quản lý cũng cần được điều chỉnh về cơ cấu tổ chức và nhân sự.

Trước hết, theo tôi, nên lựa chọn một số dự án tại Hà Nội, TP.HCM để thí điểm, nghiên cứu kỹ và tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan.

Thí điểm Nhà nước mua lại dự án "đắp chiếu": Hạn chế lãng phí tài nguyên, tăng nguồn cung nhà ở - Ảnh 1.

Dự án Khu đô thị cao cấp Usilk City (Hà Đông - Hà Nội) thiếu vốn đầu tư, thi công chậm tiến độ, chưa bàn giao được hơn 750 căn hộ cho khách hàng. (Ảnh: Đỗ Linh)

- Cần căn cứ vào những tiêu chí nào để xác định chủ đầu tư thực sự "không còn khả năng thực hiện" hoặc "không thể chuyển nhượng" thưa Tiến sĩ Thái Thị Quỳnh Như?

TS. Thái Thị Quỳnh Như: Ban Chỉ đạo về giải quyết các vấn đề khó khăn, vướng mắc của các dự án tồn đọng được thành lập theo Quyết định số 751/QĐ-TTg ngày 11/4/2025 đã rà soát, kiểm tra, tổng hợp các dự án chậm tiến độ, chưa đưa vào thực hiện và chuyển cơ quan chức năng đề xuất giải pháp xử lý. Các dự án đầu tư bất động sản có vướng mắc liên quan đến đất đai cũng đã được tổng hợp, phân loại để đề xuất phương án.

Tiêu chí xác định chủ đầu tư thực sự "không còn khả năng thực hiện" hoặc "không thể chuyển nhượng" đã được thể hiện trong các quy định của Luật Đất đai và các luật liên quan như Luật Nhà ở, Luật Xây dựng, Luật Kinh doanh bất động sản, từ thời hạn triển khai dự án, điều kiện đưa bất động sản vào kinh doanh, điều kiện ký hợp đồng mua bán đến các nghĩa vụ ràng buộc trong hợp đồng. Vi phạm có thể dẫn tới xử phạt, dừng thực hiện hoặc thu hồi dự án.

Tuy nhiên, khó khăn là xác định nguyên nhân sai phạm và trách nhiệm của các bên liên quan. Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, có nhiều lý do khách quan như quan điểm chỉ đạo, năng lực quản lý, điều hành và thực thi pháp luật, hoặc điều kiện bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh, khiến dự án bất động sản nói chung và dự án nhà ở thương mại nói riêng không thể triển khai đúng kế hoạch.

Thí điểm Nhà nước mua lại dự án "đắp chiếu": Hạn chế lãng phí tài nguyên, tăng nguồn cung nhà ở - Ảnh 2.

Nhiều dự án chậm tiến độ gây lãng phí tài nguyên đất đai và ảnh hưởng đến môi trường đầu tư. (Ảnh minh họa: Trọng Hiếu)

- Thưa luật sư Nguyễn Tiến Lập, đối với dự án đang có sai phạm, tranh chấp, thế chấp hoặc nghĩa vụ với người mua nhà, cần đặt ra điều kiện pháp lý nào để Nhà nước có thể "cứu dự án" nhưng không gánh thay trách nhiệm, khoản thua lỗ và lợi nhuận kỳ vọng của chủ đầu tư cũ?

Luật sư Nguyễn Tiến Lập: Về thực chất, cơ chế thí điểm theo Nghị quyết của Trung ương là chủ trương chung, cần được cụ thể hóa khi thực hiện. Chẳng hạn, phải phân loại dự án theo lý do chậm hoặc ách tắc triển khai, với ba tình huống chính: Chủ đầu tư mất năng lực hoặc vướng vào lao lý do vi phạm pháp luật; thị trường đóng băng hoặc mất thanh khoản; thay đổi chính sách, pháp luật, bao gồm cả điều chỉnh quy hoạch.

Trên cơ sở đó, Nhà nước sẽ can thiệp bằng các biện pháp phù hợp. Trong khuôn khổ pháp lý, có thể là doanh nghiệp Nhà nước được chỉ định nhận chuyển nhượng dự án; hoặc Nhà nước thu hồi quyền sử dụng đất và các giấy phép liên quan để xử lý hậu quả, kèm cơ chế bồi thường, trưng mua theo quy định pháp luật. Nếu nhận chuyển nhượng dự án, các bên có thể thỏa thuận việc phân định và chuyển giao hiện trạng, hậu quả, bao gồm các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm liên quan. Nếu áp dụng biện pháp "trưng thu" hay "trưng mua" thì sẽ phải thực hiện theo quy định của pháp luật tương ứng.

Cần lưu ý, xử lý bằng biện pháp hành chính sẽ rất phức tạp. Ngoài việc áp dụng chế tài đối với vi phạm và lỗi của chủ đầu tư với tư cách nhà phát triển dự án, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên ngay tình tham gia dự án phải được bảo vệ. Tùy quy mô dự án, nhóm này có thể rất lớn, gồm ngân hàng, nhà đầu tư gián tiếp hoặc thứ cấp, nhà thầu cung ứng, người mua hoặc người tiêu dùng đã trả tiền trước. Quá trình chấm dứt và chuyển giao dự án có thể phát sinh tranh chấp, khiếu nại, kiện tụng. Khi đó, nhiều cơ quan nhà nước có thể phải tham gia xử lý, không chỉ cơ quan quản lý mà cả cơ quan tư pháp như Công an, Tòa án.

- Nghị quyết số 21-NQ/TW yêu cầu giá mua phải tính đúng, tính đủ, hợp lý chi phí đầu vào nhưng không bao gồm địa tô chênh lệch. Theo Tiến sĩ Thái Thị Quỳnh Như, nguyên tắc này nên được cụ thể hóa như thế nào?

TS. Thái Thị Quỳnh Như: Yêu cầu này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc quản lý kinh tế. Khi xem xét điều tiết giá trị đất đai tăng thêm, tức địa tô chênh lệch từ việc sử dụng đất mang lại, lợi ích thường được phân chia giữa Nhà nước, chủ đầu tư và người sử dụng đất. Tuy nhiên, đây là các dự án nhà ở thương mại không còn khả năng triển khai hoặc không thể chuyển nhượng; trong trường hợp này, nếu chủ đầu tư và người sử dụng đất không đóng góp vào phần giá trị tăng thêm của bất động sản thì phần địa tô chênh lệch đó phải thuộc về Nhà nước.

Nguyên tắc quan trọng là phải xác định rõ quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư. Để xây dựng một dự án bất động sản, nhà đầu tư đã bỏ ra nhiều khoản chi phí đầu vào trong thời gian dài. Bản chất vấn đề là phải xác định cụ thể các khoản chi phí thực tế, như giá đất ban đầu, chi phí xây dựng công trình trên đất, các khoản nghĩa vụ phải trả như thuế sử dụng đất, lãi vay…

Trong trường hợp dự án đã mở bán, cần xác định thời điểm giao dịch và có giải pháp xử lý đối với số tiền người mua đã nộp, bao gồm cả nghĩa vụ liên quan đến gốc và lãi. Tất cả các vấn đề này cần được một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp đánh giá để xác định chính xác giá trị hiện tại của tài sản, chi phí đầu tư và các khoản nợ còn phải thực hiện.

- Theo luật sư Nguyễn Tiến Lập, những "lằn ranh đỏ" nào phải được quy định trong Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm thực hiện cơ chế Nhà nước mua lại nhà ở thương mại này để tránh thất thoát ngân sách và tình trạng mua xong dự án vẫn tiếp tục đình trệ?

Luật sư Nguyễn Tiến Lập: Muốn dự án sau khi được Nhà nước mua sẽ không tiếp tục bị đình trệ thì "khâu pháp lý" phải đi trước, đặc biệt là phần pháp lý hành chính liên quan đến dự án, trong đó sửa đổi, hoàn thiện Luật Đất đai đóng vai trò quan trọng hàng đầu. Lý do bởi dù cho Nhà nước là chủ sở hữu của dự án thì vẫn phải thực hiện theo pháp luật. Tiếp đến, như đã nói, Nhà nước phải chuyển giao dự án cho doanh nghiệp thực hiện thì các năng lực về tài chính, quản trị và kỹ thuật liên quan phải được bảo đảm. Những điều này cần được cụ thể hóa cả ở tầm vĩ mô lẫn trong từng trường hợp đơn lẻ.

Để hạn chế lãng phí, thất thoát ngân sách, trước hết cần kiểm toán và thẩm định độc lập nhằm xác định đầy đủ những chi phí đầu vào hợp pháp, hợp lý mà chủ đầu tư đã thực tế bỏ ra và đã tạo thành giá trị tại dự án. Đồng thời, phải làm rõ phần vốn đã đầu tư, các nghĩa vụ tài chính đã hoàn thành hoặc còn phải thực hiện, cũng như những quyền và nghĩa vụ cần chuyển giao hoặc được cấn trừ khi Nhà nước mua lại dự án.

Giá mua chỉ nên ghi nhận những khoản chi phí có căn cứ, có chứng từ hợp lệ và tương ứng với phần tài sản còn giá trị khai thác. Những khoản chi không hợp pháp, không hợp lý, chưa thực tế phát sinh hoặc không tạo ra giá trị cho dự án không thể được chuyển sang cho Nhà nước thanh toán. Đối với chi phí cơ hội và lợi nhuận kỳ vọng của chủ đầu tư, đây không phải là những khoản đương nhiên được ngân sách hoàn trả.

Cần lưu ý việc Nhà nước mua lại không đương nhiên đồng nghĩa với việc giải phóng toàn bộ các nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý của chủ đầu tư cũ. Các trách nhiệm dân sự, hành chính hoặc hình sự phát sinh từ hành vi vi phạm vẫn phải được tiếp tục xử lý. 

- Tiến sĩ Thái Thị Quỳnh Như có ý kiến như thế nào?

TS. Thái Thị Quỳnh Như: Việc thuê đơn vị thẩm định giá độc lập là rất cần thiết và bắt buộc để bảo đảm tính khách quan khi định giá tài sản của dự án, bao gồm đất đai, công trình đã đầu tư, các khoản thu và khoản vay. Quá trình thực hiện cần được giám sát với sự phối hợp của các ngành liên quan như đất đai, thuế, ngân hàng, xây dựng… để bảo đảm tính đầy đủ, tránh thất thoát ngân sách.

Thực tế, số lượng dự án có vướng mắc còn lớn và nguyên nhân rất khác nhau. Vì vậy, muốn có cơ chế giám sát phù hợp, trước hết phải phân loại mức độ và dạng vướng mắc của từng dự án.

Để nguyên tắc định giá có thể vận hành, nghị quyết thí điểm cần tách bạch ít nhất các nhóm giá trị: Chi phí đất đai và giải phóng mặt bằng hợp pháp đã thực trả; giá trị khối lượng xây dựng đã hoàn thành sau khi trừ hao mòn, xuống cấp và chi phí khắc phục; chi phí tư vấn, thiết kế, quản lý dự án hợp lý; chi phí vốn trong giới hạn được chấp nhận; các nghĩa vụ thuế, nợ và khoản tiền khách hàng đã nộp,... Lợi nhuận kỳ vọng, tiền phạt và lãi phát sinh do lỗi của chủ đầu tư, chi phí sử dụng vốn sai mục đích, cùng phần tăng giá đất không do doanh nghiệp tạo ra, phải được nhận diện riêng để không chuyển sang ngân sách.

Toàn bộ quá trình lựa chọn và mua lại dự án phải được công khai, minh bạch. Việc giám sát quá trình thực hiện phải có sự phối hợp của các ngành có liên quan như đất đai, thuế, ngân hàng, xây dựng… để đảm bảo tính đầy đủ, tránh thất thoát ngân sách.

- Khi Nhà nước hoặc một đơn vị mới tiếp quản dự án đã bán nhà ở hình thành trong tương lai, các hợp đồng gồm số tiền đã nộp và quyền nhận nhà mà người mua ký với chủ đầu tư cũ sẽ được xử lý như thế nào, nhất là với dự án đang thế chấp hoặc có nhiều khoản nợ? Nếu tiếp tục hợp đồng, người mua phải đóng thêm trong giới hạn nào để chỉ chia sẻ chi phí khách quan cần thiết hoàn thiện công trình, không phải gánh hậu quả từ việc sử dụng vốn sai mục đích, quản trị yếu kém, tiền phạt và lãi phát sinh do lỗi của chủ đầu tư cũ?

Luật sư Nguyễn Tiến Lập: Về tổng thể, cần hiểu "cơ chế thí điểm" là biện pháp can thiệp hành chính nhất thời vào quan hệ thị trường và phải được triển khai trên nền tảng khung pháp luật hiện hành. Theo nguyên tắc đó, tôi cho rằng căn cứ chủ trương chung của cấp có thẩm quyền, mỗi địa phương sẽ thiết lập một cơ quan hoặc tổ chức làm đầu mối xử lý tập trung, thay cho việc từng chủ đầu tư tự xử lý dự án.

Tuy nhiên, mỗi dự án cần có một đề án xử lý riêng được phê duyệt, bao gồm nhiều biện pháp liên hoàn, đồng bộ. Trong đó, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm liên quan phải được làm rõ, phân định giữa các nhóm đối tượng: Nhóm sai phạm và nhóm không vi phạm hoặc ngay tình; nhóm chủ nợ và nhóm con nợ; bên chuyển giao và bên tiếp nhận quyền, nghĩa vụ…

Có nghĩa, theo tôi, phương án xử lý cần được cá thể hóa theo từng dự án cụ thể.

Từ nguyên tắc cá thể hóa đó, nghị quyết thí điểm cần đặt người mua nhà vào vị trí trung tâm của phương án xử lý. Trước khi phê duyệt mua lại, phải hoàn tất việc kiểm kê hợp đồng, xác nhận số tiền từng khách hàng đã nộp và đối chiếu với tài khoản, chứng từ của dự án. Nếu hợp đồng được tiếp tục, mọi khoản đóng thêm chỉ nên được đặt ra sau khi công khai tổng chi phí hoàn thiện, phần vốn còn thiếu, tiến độ và cơ chế bảo đảm thực hiện. Chi phí do chủ đầu tư cũ sử dụng vốn sai mục đích, quản trị yếu kém, vi phạm pháp luật, tiền phạt hoặc lãi chậm trả do lỗi của mình phải được tách khỏi nghĩa vụ của người mua. Với dự án đang thế chấp, phương án tiếp quản cũng phải giải quyết việc giải chấp, thay thế tài sản bảo đảm hoặc phân định quyền ưu tiên của bên nhận thế chấp trước khi bàn giao nhà.

Đối với người mua không đồng thuận với phương án tiếp tục hợp đồng, cần dự liệu quyền chấm dứt hợp đồng, cách xác định khoản được hoàn trả, thời hạn và nguồn chi trả. Những thay đổi trọng yếu như thiết kế, diện tích, công năng, giá hoặc thời điểm bàn giao phải có cơ chế lấy ý kiến minh bạch, thay vì mặc nhiên buộc khách hàng chấp nhận một hợp đồng mới.

- Thí điểm thực hiện cơ chế Nhà nước mua lại những dự án nhà ở thương mại không còn khả năng thực hiện hoặc không thể chuyển nhượng mở ra một công cụ chính sách đáng chú ý, không chỉ xử lý phần tài sản bị bỏ không mà còn có thể chuyển hóa nguồn lực đó thành quỹ nhà ở phục vụ nhu cầu xã hội. Hiệu quả của cơ chế theo đó cũng không nằm ở số dự án được mua lại, mà ở số dự án thực sự được hoàn thành, số người dân được bảo vệ và có chỗ ở, lượng vốn và đất đai được đưa trở lại nền kinh tế, cùng mức độ ngân sách được bảo toàn.

Trân trọng cảm ơn các chuyên gia vì những chia sẻ hữu ích!


Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Thương hiệu dẫn đầu

Lên đầu trang
Top