Theo báo cáo mới của Bộ Xây dựng về lĩnh vực đường bộ, đến nay cả nước đã hoàn thành, đưa vào khai thác và thông xe kỹ thuật khoảng 3.803km đường bộ cao tốc, gồm 3.345km tuyến chính và khoảng 458km đường dẫn, nút giao.
Đây được xem là bước tiến lớn trong quá trình hoàn thiện mạng lưới giao thông chiến lược quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang đặt mục tiêu xây dựng hệ thống hạ tầng đồng bộ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Cao tốc mở rộng, tái định hình liên kết vùng
Bộ Xây dựng cho biết vận tải đường bộ hiện vẫn giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống logistics Việt Nam, đảm nhận khoảng 70-75% thị phần vận tải hàng hóa nội địa và khoảng 91% vận tải hành khách.
Trong bối cảnh nhu cầu lưu thông hàng hóa, kết nối vùng và phát triển công nghiệp ngày càng lớn, mạng lưới cao tốc đang trở thành "xương sống" của nền kinh tế.
Hiện cả nước tiếp tục triển khai đầu tư 38 dự án hạ tầng đường bộ với tổng chiều dài khoảng 2.111km.

Một đoạn tuyến cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu đã được đưa vào khai thác. Ảnh: Báo Chính Phủ
Trong số này, Bộ Xây dựng trực tiếp triển khai 8 dự án dài khoảng 284km; các địa phương đầu tư 29 dự án với tổng chiều dài khoảng 1.797km; còn Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) thực hiện một dự án dài 30km.
Song song với việc mở rộng mạng lưới cao tốc, cơ chế quản lý hạ tầng đường bộ cũng đang thay đổi theo hướng tăng tính chủ động cho địa phương. Bộ Xây dựng hiện trực tiếp quản lý khoảng 4.875km quốc lộ trọng yếu có tính liên vùng và liên quốc gia, đồng thời đã phân cấp cho các địa phương quản lý hơn 17.520km quốc lộ, tương đương hơn 70% chiều dài toàn mạng lưới.
Theo giới chuyên gia, việc mở rộng hạ tầng giao thông không chỉ rút ngắn thời gian di chuyển mà còn tạo ra "không gian phát triển mới" cho bất động sản, công nghiệp, logistics và du lịch tại nhiều địa phương.
Hạ tầng hàng hải chuyển sang giai đoạn đầu tư chiều sâu
Không chỉ đường bộ, lĩnh vực hàng hải và đường thủy nội địa cũng đang chứng kiến làn sóng đầu tư mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu ngày càng tăng của nền kinh tế.
Theo Bộ Xây dựng, hệ thống cảng biển Việt Nam hiện có 309 bến cảng với tổng chiều dài cầu cảng khoảng 107km cùng 14 bến cảng dầu khí ngoài khơi.
Năng lực thông qua hàng hóa tăng nhanh trong vài năm gần đây, từ khoảng 706,1 triệu tấn năm 2021 lên khoảng 955,5 triệu tấn vào năm 2025.

Hạ tầng được xác định là động lực tăng trưởng dài hạn. Ảnh minh họa
Hệ thống luồng hàng hải, đê chắn sóng, báo hiệu và hạ tầng logistics cảng biển cũng được đầu tư tương đối đồng bộ, đáp ứng toàn bộ nhu cầu vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu và nội địa.
Đáng chú ý, định hướng phát triển hạ tầng hàng hải hiện không còn dừng ở việc mở rộng quy mô mà chuyển sang đầu tư chiều sâu và nâng cao tính kết nối.
Bộ Xây dựng đang rà soát, hoàn thiện quy hoạch theo hướng tích hợp giữa hàng hải và đường thủy nội địa, ưu tiên đầu tư các cảng cửa ngõ và tuyến vận tải trọng điểm.
Hàng loạt dự án lớn đang được thúc đẩy tiến độ như: Gemalink giai đoạn 2, cảng Cái Mép Hạ, cảng Liên Chiểu, các bến số 7, 8, 9, 10 tại Lạch Huyện hay cảng Hòn Khoai.
Đây đều là những dự án có vai trò chiến lược trong việc nâng cao vị thế logistics của Việt Nam trong chuỗi cung ứng khu vực.
Hạ tầng trở thành động lực tăng trưởng dài hạn
Bên cạnh đường bộ và hàng hải, nhiều lĩnh vực hạ tầng khác như sân bay, đường sắt đô thị, năng lượng và logistics cũng đang được thúc đẩy đồng thời.
Giới phân tích đánh giá Việt Nam đang bước vào chu kỳ đầu tư hạ tầng quy mô lớn chưa từng có, với mục tiêu giải quyết các điểm nghẽn về kết nối và tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.
Việc đầu tư đồng bộ không chỉ giúp giảm chi phí logistics - vốn đang ở mức cao so với khu vực - mà còn mở rộng khả năng thu hút vốn FDI, thúc đẩy phát triển công nghiệp và gia tăng sức cạnh tranh cho nền kinh tế.
Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045, hạ tầng được xem là một trong những trụ cột quan trọng nhất để duy trì tốc độ tăng trưởng và tái cấu trúc không gian phát triển kinh tế trên phạm vi toàn quốc.