Aa

Hướng tới mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp: Khơi thông nguồn vốn, nâng sức chống chịu của doanh nghiệp

Thứ Năm, 01/10/2026 - 06:16

Để hiện thực hóa mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030, các chuyên gia cho rằng cần tháo gỡ điểm nghẽn về vốn, giảm chi phí và đổi mới tư duy thực thi chính sách, tạo điều kiện để doanh nghiệp duy trì hoạt động và phát triển bền vững.

Quy mô doanh nghiệp tăng, sức chống chịu vẫn là vấn đề cần lưu ý

Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân đặt mục tiêu đến năm 2030 cả nước có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động; ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Nghị quyết cũng xác định tốc độ tăng trưởng bình quân của khu vực kinh tế tư nhân đạt khoảng 10 - 12%/năm, đóng góp khoảng 55 - 58% GDP.

Theo Cục Thống kê, cuối năm 2025, cả nước có khoảng 1,02 triệu doanh nghiệp đang hoạt động. Trong 8 tháng đầu năm 2026, gần 206.400 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, hơn 88.000 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, gần 28.600 doanh nghiệp chờ giải thể và hơn 40.800 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể. Bình quân mỗi tháng có khoảng 19.700 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

Đáng chú ý, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tăng 125,5% so với cùng kỳ năm trước và được cơ quan thống kê ghi nhận là mức cao nhất từ trước đến nay. 

Hướng tới mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp: Khơi thông nguồn vốn, nâng sức chống chịu của doanh nghiệp  - Ảnh 1.

Tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong 8 tháng đầu năm 2026. 

Chia sẻ với Reatimes, ông Phạm Xuân Hoè, nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước), Tổng thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam cho rằng, 8 tháng năm 2026, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam khá cao, nhưng chưa lan tỏa đồng đều tới tất cả các loại hình doanh nghiệp, bởi FDI vẫn là khu vực hưởng lợi nhiều hơn.

Số lượng doanh nghiệp gia nhập thị trường tăng lên, nhưng sức khỏe của khu vực doanh nghiệp lại khá phân tán. Đặc biệt ở khu vực doanh nghiệp nội địa, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường hoặc giải thể cũng tăng khá cao.

“Chúng ta theo đuổi mục tiêu có khoảng 2 triệu doanh nghiệp là rất đúng nhưng điều đáng quan tâm hơn phải là chất lượng doanh nghiệp như thế nào và khả năng đóng góp đối với nền kinh tế ra sao. Còn số lượng tăng lên đôi khi có thể do số hộ kinh doanh chuyển lên doanh nghiệp còn đang rất mới chưa thể đóng góp nhiều”, ông Phạm Xuân Hoè nêu quan điểm.

Hướng tới mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp: Khơi thông nguồn vốn, nâng sức chống chịu của doanh nghiệp  - Ảnh 2.

Ông Phạm Xuân Hoè, nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước, Tổng thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam. 

Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng cũng lưu ý, vốn đăng ký bình quân của một doanh nghiệp đạt khoảng 12,4 tỷ đồng, theo Cục Thống kê, là khá cao. Nhưng chưa phản ánh đầy đủ nguồn lực mà doanh nghiệp thực sự đưa vào sản xuất kinh doanh.

“Có những trường hợp mức vốn đăng ký chỉ tạo ra vẻ ngoài doanh nghiệp có quy mô lớn, còn thực chất nguồn lực đi vào sản xuất kinh doanh lại không nhiều”, ông Hoè nêu.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp vẫn đang chịu áp lực lãi suất cao. Trong khi đó, tổng vốn huy động hiện vẫn thấp hơn nhu cầu tín dụng. Áp lực càng tăng khi số lượng dự án quy mô lớn, có nhu cầu vốn hàng nghìn tỷ đồng, thậm chí hàng tỷ USD. Đặc biệt, các dự án hạ tầng, bất động sản thường cần vốn trung và dài hạn. 

Để đáp ứng nhu cầu này, các ngân hàng phải liên tục huy động và quay vòng nguồn vốn ngắn hạn, với kỳ hạn phổ biến từ 3 đến 6 tháng. Mỗi lần huy động lại đều phát sinh thêm chi phí, buộc ngân hàng phải tính vào giá vốn cho vay, qua đó tạo áp lực tăng lãi suất. 

"Đây là điểm nghẽn mang tính cấu trúc mà hệ thống ngân hàng khó có thể tự giải quyết nếu tiếp tục phải gánh phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế. Đặc biệt, nếu nguồn vốn tập trung ngày càng nhiều vào những doanh nghiệp và dự án quy mô lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể gặp thêm khó khăn khi tiếp cận nguồn lực phục vụ sản xuất kinh doanh", theo ông Phạm Xuân Hoè.

Cùng nhìn nhận về vấn đề này, LS. Nguyễn Tiến Lập, Thành viên Văn phòng Luật sư NHQuang và Cộng sự, Trọng tài viên Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam cho rằng, kinh tế Việt Nam đang ghi nhận nhiều kết quả tích cực trong tăng trưởng GDP, thu ngân sách và xuất khẩu, thu hút vốn FDI. Tuy nhiên, khi đi sâu vào từng lĩnh vực, quan sát thị trường và đời sống thực tế của doanh nghiệp, có thể thấy một số khó khăn vẫn hiện hữu.

Hướng tới mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp: Khơi thông nguồn vốn, nâng sức chống chịu của doanh nghiệp  - Ảnh 3.

LS. Nguyễn Tiến Lập, Thành viên Văn phòng Luật sư NHQuang và Cộng sự, Trọng tài viên Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam.

Lấy ví dụ về lĩnh vực xây dựng, LS. Nguyễn Tiến Lập cho biết nhiều nhà thầu hiện có khối lượng công việc lớn, thậm chí gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động. Trong khi đó, thị trường bất động sản cũng đang đối mặt với không ít thách thức. Tương tự, nhiều cửa hàng nhỏ phải đóng cửa, doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn trong duy trì hoạt động, thậm chí, một số doanh nghiệp lớn cũng đối mặt với nhiều áp lực.

"Thực tế, chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp không dừng lại ở thời điểm kết thúc năm tài chính. Bài toán trước mắt của nhiều doanh nghiệp hiện nay là làm sao tồn tại được đến cuối năm và tiếp tục duy trì hoạt động trong năm sau", LS. Nguyễn Tiến Lập nêu.

Khơi thông dòng vốn, đổi mới tư duy chính sách để doanh nghiệp vượt khó

Để tạo điều kiện cho doanh nghiệp phục hồi và mở rộng sản xuất kinh doanh, các chuyên gia cho rằng cần sớm tháo gỡ những điểm nghẽn về vốn, giảm chi phí tài chính và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực. 

Với bài toán lãi suất, theo ông Phạm Xuân Hoè, cần giảm sự phụ thuộc của nền kinh tế vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng, bất động sản và sản xuất ngày càng lớn nhưng khả năng huy động vốn của hệ thống ngân hàng có giới hạn. Nếu tiếp tục đặt phần lớn nhu cầu vốn lên hệ thống này, áp lực về chi phí vốn và cân đối thanh khoản sẽ khó được giải quyết triệt để.

“Nếu chỉ trông chờ vào ngân hàng thì không thể có câu chuyện lãi suất thấp một cách bền vững”, ông Hoè nhấn mạnh và đề xuất phát triển một hệ thống cung ứng vốn đồng bộ. Gồm tín dụng ngân hàng, bảo lãnh tín dụng gắn với bảo hiểm tín dụng, các quỹ đầu tư của Nhà nước, cấu trúc lại Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB - thuộc Bộ Tài chính, chuyên cho vay vốn dài hạn) thực sự trở thành định chế tài chính phát triển của quốc gia; phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đổi mới sáng tạo và quỹ đầu tư mạo hiểm...

Tuy nhiên, trước hết bắt buộc phải cải thiện ngay khả năng tiếp cận những chính sách hỗ trợ hiện có. Đơn cử, với chương trình hỗ trợ lãi suất 2%/năm theo Nghị quyết 198/2025/QH15 (được Quốc hội thông qua ngày 17/5/2025 để phát triển kinh tế tư nhân, dành cho doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh vay vốn thực hiện dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn ESG). Nếu ngân hàng thương mại phải chờ đến cuối năm mới được quyết toán và hoàn trả phần lãi suất đã hỗ trợ, tổ chức tín dụng sẽ phải tính đến những rủi ro phát sinh từ thời gian và quy trình thực hiện chính sách.

"Ngân sách có thanh toán kịp thời phần lãi suất hỗ trợ theo tháng hoặc quý, sau đó thực hiện hậu kiểm trên cơ sở hồ sơ đầy đủ, giúp ngân hàng giảm bớt rủi ro khi tham gia chương trình, cũng như tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ thuận lợi hơn", ông Phạm Xuân Hòe đề xuất.

Dự báo từ nay đến cuối năm, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng nhận định, tỷ giá sẽ tiếp tục chịu áp lực, khiến mặt bằng lãi suất VND khó giảm đáng kể và chi phí vốn của doanh nghiệp duy trì ở mức cao.

"Tỷ giá có thể biến động nhanh, ngay cả khi thị trường trước đó tương đối ổn định. Vì vậy, bên cạnh sự phối hợp điều hành giữa Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính, doanh nghiệp cần chủ động đánh giá rủi ro, củng cố nội lực và xây dựng phương án tài chính ứng phó với những biến động về tỷ giá và lãi suất", ông Hoè lưu ý.

Bên cạnh đó, ông Hoè đặc biệt lưu ý đến yêu cầu đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển dòng tiền từ ngân sách trở lại nền kinh tế. Khi nguồn thu ngân sách lớn nhưng tiến độ chi và giải ngân chưa tương ứng, một phần nguồn lực chưa thể quay trở lại hoạt động sản xuất kinh doanh đúng thời điểm.

"Nếu nguồn vốn đã được bố trí nhưng hồ sơ, thủ tục kéo dài, doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục sử dụng vốn vay để duy trì hoạt động, qua đó làm gia tăng chi phí tài chính", ông Phạm Xuân Hoè chỉ ra.

Nếu nguồn vốn đã được bố trí nhưng hồ sơ, thủ tục kéo dài, doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục sử dụng vốn vay để duy trì hoạt động, qua đó làm gia tăng chi phí tài chính.
Ông Phạm Xuân Hoè chỉ ra. Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước

Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng cũng cho rằng, việc phát triển các tuyến giao thông và công trình hạ tầng sẽ mở ra cơ hội cho các dự án bất động sản tại khu vực lân cận, đồng thời tạo điều kiện mở rộng hoạt động sản xuất, thương mại và dịch vụ. 

Tuy nhiên, để phát huy đầy đủ tác động lan tỏa của đầu tư công, cần tạo thuận lợi cho nhiều nhóm doanh nghiệp cùng tham gia và hưởng lợi, trong đó chú trọng cải thiện khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh, để thúc đẩy sự phát triển đồng bộ của nền kinh tế.

Bên cạnh các giải pháp về vốn và thị trường, ông Phạm Xuân Hoè đề nghị tạo dựng môi trường chính sách có tính ổn định, có thể dự đoán trước để doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch đầu tư, sản xuất kinh doanh và quản trị rủi ro.

"Doanh nghiệp Việt Nam rất mong chờ một môi trường chính sách có tính ổn định và có thể dự đoán trước. Với sự phát triển của công nghệ hiện nay, có thể xây dựng một nền tảng để những phản ánh và vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi được cập nhật thường xuyên tới cơ quan điều hành", theo ông Phạm Xuân Hoè.

Ở góc độ chính sách, LS. Nguyễn Tiến Lập cho rằng, bên cạnh việc đẩy nhanh xây dựng và thực thi chính sách, cần tính đến khả năng thích ứng thực tế của doanh nghiệp. Bởi doanh nghiệp luôn cần thời gian và nguồn lực để đáp ứng những yêu cầu mới. Nếu nhiều nghĩa vụ và chế tài cùng được siết chặt trong lúc hoạt động sản xuất kinh doanh đang khó khăn, chính sách có thể tạo thêm áp lực chi phí. Vì vậy,  trước mắt, cần có những biện pháp giúp doanh nghiệp giảm bớt chi phí tuân thủ, tạo điều kiện để doanh nghiệp "tồn tại trước đã".

"Đặc biệt, cần có tư duy liên ngành, tư duy hệ thống và tư duy tổng thể vì lợi ích chung, tránh tình trạng mỗi cơ quan chỉ tập trung hoàn thành chỉ tiêu riêng, thiếu sự phối hợp khi xử lý những vướng mắc liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật", theo LS. Nguyễn Tiến Lập. 


Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận

Đọc thêm

Thương hiệu dẫn đầu

Lên đầu trang
Top