Việc xây dựng nhà ở trên đất nông nghiệp khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử lý nghiêm khắc bằng nhiều biện pháp, từ xử phạt tiền đến buộc khôi phục hiện trạng ban đầu của thửa đất.
Theo quy định của pháp luật đất đai, đất nông nghiệp bao gồm các loại đất được sử dụng cho mục đích sản xuất như trồng trọt, chăn nuôi, trồng rừng, nuôi trồng thủy sản, đất lâm nghiệp, đất phòng hộ đê điều… Đây là nhóm đất được Nhà nước giao hoặc công nhận để phục vụ sản xuất và lợi ích công cộng, không được sử dụng làm đất ở nếu chưa thực hiện thủ tục chuyển mục đích theo quy định.
Một trong những nguyên tắc xuyên suốt của Luật Đất đai qua các thời kỳ là sử dụng đất đúng mục đích. Do đó, mọi hành vi sử dụng đất sai mục đích, trong đó có việc xây nhà ở trên đất nông nghiệp khi chưa được phép chuyển đổi, đều bị xử lý theo quy định pháp luật.

Xây nhà trên đất nông nghiệp sẽ bị xử phạt nặng. Ảnh minh họa
Nghị định số 123/2024/NĐ-CP quy định chi tiết về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đã xác định rõ các mức xử phạt đối với hành vi sử dụng đất nông nghiệp sai mục đích.
Theo các điều 8, 9 và 10 của Nghị định này, người vi phạm không chỉ bị phạt tiền mà còn buộc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, bao gồm việc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất theo đúng mục đích sử dụng đã được Nhà nước giao hoặc công nhận, trừ trường hợp được cơ quan có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích.
Chuyển đất trồng lúa sang đất ở: Mức phạt cao nhất lên tới 200 triệu đồng
Cụ thể, theo Điều 8 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, hành vi tự ý chuyển đất trồng lúa sang đất ở trong phạm vi địa giới hành chính cấp xã sẽ bị xử phạt căn cứ theo diện tích vi phạm. Mức phạt dao động từ 20-30 triệu đồng đối với diện tích dưới 0,01ha và tăng dần theo quy mô vi phạm. Trường hợp diện tích vi phạm từ 0,1ha trở lên, mức phạt có thể lên tới 150-200 triệu đồng.
Đáng lưu ý, nếu hành vi vi phạm xảy ra trên địa bàn phường hoặc thị trấn, mức xử phạt sẽ được áp dụng gấp đôi so với mức tương ứng tại khu vực nông thôn.
Tự ý chuyển đất rừng sang đất ở cũng bị xử phạt nghiêm
Đối với đất rừng, bao gồm đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ và đất rừng sản xuất, Điều 9 Nghị định 123 quy định mức xử phạt từ 10-20 triệu đồng đối với diện tích vi phạm dưới 0,02ha. Trường hợp diện tích vi phạm lớn, từ 0,5ha trở lên, mức phạt có thể lên tới 150-200 triệu đồng.
Tương tự các trường hợp khác, nếu vi phạm xảy ra trong phạm vi phường hoặc thị trấn, mức phạt sẽ được nhân đôi.
Các loại đất nông nghiệp khác: Phạt tới 150 triệu đồng
Theo Điều 10 Nghị định 123, hành vi chuyển các loại đất nông nghiệp không phải đất trồng lúa, không phải đất lâm nghiệp sang đất ở cũng bị xử phạt theo diện tích vi phạm. Mức phạt khởi điểm từ 10-20 triệu đồng đối với diện tích dưới 0,01ha và có thể lên tới 100-150 triệu đồng nếu diện tích vi phạm từ 0,1ha trở lên. Trường hợp vi phạm tại phường, thị trấn, mức phạt tiếp tục được áp dụng gấp đôi.
Bên cạnh hình thức xử phạt bằng tiền, người vi phạm còn phải thực hiện đầy đủ các biện pháp khắc phục hậu quả theo yêu cầu của cơ quan chức năng. Trong đó, biện pháp phổ biến là buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép và khôi phục lại hiện trạng ban đầu của đất nếu không được chấp thuận chuyển mục đích sử dụng.