Theo quy định của Luật Đất đai 2024, việc sử dụng đất phải đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê hoặc công nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, trường hợp tự ý chuyển đất nông nghiệp sang đất ở khi chưa hoàn tất thủ tục xin phép được xác định là hành vi sử dụng đất sai mục đích và bị xử lý theo quy định pháp luật.
Hiện nay, mức xử phạt đối với hành vi này được quy định tại Nghị định 123/2024/NĐ-CP, với chế tài khác nhau tùy theo loại đất vi phạm, diện tích chuyển đổi và khu vực xảy ra vi phạm.
Đối với đất trồng lúa, nếu tự ý chuyển sang đất ở tại khu vực xã, cá nhân vi phạm có thể bị phạt từ 20 triệu đồng đến 200 triệu đồng. Mức xử phạt thấp nhất áp dụng với diện tích dưới 0,01ha, trong khi diện tích từ 0,1ha trở lên có thể bị phạt tới 200 triệu đồng.

Chuyển từ đất nông nghiệp sang đất ở khi chưa được phép sẽ bị xử phạt theo quy định. Ảnh minh họa
Trong trường hợp hành vi vi phạm xảy ra tại phường hoặc thị trấn, mức xử phạt sẽ tăng gấp đôi so với khu vực xã.
Không chỉ bị xử phạt bằng tiền, người vi phạm còn phải khôi phục hiện trạng ban đầu của thửa đất trước khi vi phạm, trừ một số trường hợp đặc biệt được quy định tại khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai 2024. Đồng thời, toàn bộ khoản lợi bất hợp pháp phát sinh từ việc sử dụng đất sai mục đích cũng phải nộp lại cho Nhà nước.
Với đất lâm nghiệp, mức xử phạt đối với hành vi tự ý chuyển sang đất ở tại khu vực xã dao động từ 10 triệu đồng đến 200 triệu đồng, tùy theo diện tích vi phạm. Trong đó, diện tích dưới 0,02ha bị phạt từ 10-20 triệu đồng, còn diện tích từ 0,5ha trở lên có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng.
Tương tự, nếu vi phạm diễn ra tại phường hoặc thị trấn, mức phạt sẽ tăng gấp đôi.
Đối với các loại đất nông nghiệp khác không phải đất trồng lúa hoặc đất lâm nghiệp, mức xử phạt tại khu vực xã được áp dụng từ 10 triệu đồng đến 150 triệu đồng. Cụ thể, diện tích dưới 0,01ha bị phạt từ 10-20 triệu đồng; diện tích từ 0,1ha trở lên có thể bị xử phạt tới 150 triệu đồng. Nếu vi phạm xảy ra tại phường hoặc thị trấn, mức xử phạt cũng được nhân đôi theo quy định.
Ngoài nghĩa vụ nộp phạt, người sử dụng đất trong các trường hợp này vẫn phải khôi phục lại hiện trạng ban đầu của đất và nộp lại toàn bộ khoản lợi nhuận bất hợp pháp thu được từ hành vi vi phạm.
Một điểm đáng chú ý là các mức xử phạt nêu trên áp dụng đối với cá nhân. Trường hợp tổ chức thực hiện hành vi vi phạm tương tự, mức phạt sẽ bằng 2 lần mức xử phạt đối với cá nhân theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 123/2024/NĐ-CP.
Như vậy, người dân khi có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất cần thực hiện đầy đủ thủ tục xin phép cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật đất đai. Chỉ sau khi được chấp thuận, người sử dụng đất mới được phép chuyển đổi mục đích sử dụng. Việc tuân thủ đúng quy trình không chỉ giúp tránh rủi ro pháp lý mà còn bảo đảm quyền lợi lâu dài đối với thửa đất.